CÁC PHÉP LIÊN KẾT 1. Phép nối: - Định nghĩa: là cách dùng từ ngữ chỉ quan hệ để nối ý các câu lại với nhau. -Có hai nhóm từ ngữ liên kết: +Quan hệ từ: và ,hay ,hoặc là, thì,nhưng, VD :Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe. (Nam Cao) => “ Nhưng”: quan hệ từ dùng để liên kết. + Từ ngữ chuyển tiếp: ● Những đại từ :vậy ,thế.. ● những tổ hợp từ :Do đó ,tuy vậy.,ngoài ra ,vả lại ,hơn nữa. VD :Ông có xe hơi, nhà lầu,có đồn điền, lại có cả trang trại ở nhà quê. Vậy thì chính là người giàu đứt đi rồi. ( Nam Cao ) -Tác dụng:liên kết và tạo mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu -Đặc điểm nhận diện: Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước 2.Phép thế: -Định nghĩa:là cách dùng đại từ và những tứ ngữ tương đương với đại từ thay thế để nối ý giữa các câu với nhau. VD 1:Rõ ràng Trống Choai của chúng ta đã hết tuổi bé bỏng thơ ngây. Chú chẳng còn phải quấn quýt quanh chân mẹ nữa rồi. (Hải Hồ) VD 2:Dân tộc ta có một lòng yêu nước nồng nàn. Ðó là một truyền thống quý báu của ta. (Hồ Chí Minh) VD 3: Nước ta là một nước văn hiến . Ai cũng bảo thế. = > “thế “ = “nước ta là một nước văn hiến” Điền nghĩ đến cái tính bủn xỉn của đàn bà. Họ may áo để cất đi. -Tác dụng :liên kết câu và tránh lặp từ ngữ. - Đặc điểm nhận diện: Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước. 3. Phép Lặp: - Định nghĩa:là cách dùng trong hai câu khác nhau, những từ ngữ cơ bản không khác nghĩa nhau để liên kết hai câu với nhau. - Có hai nhóm: + Lặp lại chính những từ ngữ ấy : VD ; Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu! + Lặp lại từ gần nghĩa , đồng nghĩa : VD 1 : Một cái mũ len xanh nếu chị sinh con gái. Chiếc mũ đỏ nếu chị đẻ con trai. VD2 : Bệnh ung thư có mặt khắp nơi trên thế giới. Căn bệnh này đã lấy đi sinh mạng của khá nhiều người. -Tác dụng : liên kết câu và nhấn mạnh ý - Đặc điểm nhận diện: Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước 4. Phép liên tưởng: - Định nghĩa:là dùng các yếu tố từ vựng cùng xuất hiện trong một tình huống sử dụng trong văn bản ( yếu tố này xuất hiện ta lập tức nghĩ đến yếu tố kia). VD 1: (liên tưởng theo quan hệ định vị giữa các sự vật): Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền (Tố Hữu) VD 2 (liên tưởng theo công dụng - chức năng của vật): Hà Nội có Hồ Gươm Nước xanh như pha mực Bên hồ ngọn Tháp Bút Viết thơ lên trời cao (Trần Ðăng Khoa) VD 3: (liên tưởng theo đặc trưng sự vật): Mặt trời lên bằng hai con sào thì ông về đến con đường nhỏ rẽ về làng. Không cần phải hỏi thăm nữa cũng nhận ra rặng tre ở trước mặt kia là làng mình rồi. Cái chấm xanh sẫm nhô lên đó là cây đa đầu làng. Càng về đến gần càng trông rõ những quán chợ khẳng khiu nấp dưới bóng đa. (Nguyễn Ðịch Dũng) -> Làng được đặc trưng bằng rặng tre, cây đa, quán chợ VD4 (liên tưởng theo quan hệ nhân - quả, hoặc nói rộng ra: theo phép kéo theo như tuy... nhưng (nghịch nhân quả), nếu... thì (điều kiện/giả thiết - hệ quả). Ðồn địch dưới thấp còn cách xa gần bốn trăm thước đang cháy thật, tre nứa nổ lốp bốp như cả cái thung lũng đang nổ cháy. Khói lửa dày đặc không động đậy bên dưới, mà bốc ngọn mỗi lúc một cao, ngùn ngụt, gió tạt về phía đồi chỉ huy vàng rực, chói lòe trong nắng, hơi nóng bốc lên tận những đỉnh núi bố trí. (Trần Ðăng) -> Có khói lửa, hơi nóng là do nổ cháy. VD 5 : (liên tưởng theo quan hệ bao hàm): Chim chóc cũng đua nhau đến bên hồ làm tổ. Những con sít lông tím, mỏ hồng kêu vang như tiếng kèn đồng. Những con bói cá mỏ dài lông sặc sỡ. Những con cuốc đen trùi trũi len lủi giữa các bụi ven bờ. Quan hệ bao hàm còn thể hiện rõ trong quan hệ chỉnh thể - bộ phận (cây: lá, cành, quả, rễ...) hoặc trong quan hệ tập hợp - thành viên của tập hợp (quân đội: sĩ quan, binh lính......) VD6 (liên tưởng đồng loại): Cóc chết bỏ nhái mồ côi, Chẫu ngồi chẫu khóc: Chàng ôi là chàng! Ễnh ương đánh lệnh đã vang! Tiền đâu mà trả nợ làng ngóe ơi! Ví dụ 3 (liên tưởng về số lượng): Năm hôm, mười hôm... Rồi nửa tháng, lại một tháng. (Nguyễn Công Hoan) -Tác dụng : liên kết câu và bộc lộ nội dung - Đặc điểm nhận diện: Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước 5. Phép nghịch đối : ( tương phản) - Định nghĩa: sử dụng những từ ngữ trái nghĩa vào những bộ phận khác nhau có liên quan trong văn bản, -Những phương tiện liên kết thường gặp: + Từ trái nghĩa + Từ ngữ phủ định (đi với từ ngữ không bị phủ định) + Từ ngữ miêu tả (có hình ảnh và ý nghĩa nghịch đối) + Từ ngữ dùng ước lệ VD 1 (dùng từ trái nghĩa): Gia đình mất hẳn vui. Bà khổ, Liên khổ, mà ngay chính cả y cũng khổ. (Nam Cao) VD 2 (dùng từ ngữ phủ định): Những vấn đề vật chất giải quyết không khó đâu. Bây giờ các đồng chí gặp khó khăn, theo tôi nghĩ, một phần lớn là do không có người quản lí. Có người quản lí rất tận tụy, đồng thời rất kiên trì, thì giải quyết được rất nhiều việc. (Phạm Văn Ðồng) VD 3 (dùng từ ngữ miêu tả): ... Dẫu sao thì tôi vẫn mắc nợ anh ấy một chút lòng tử tế. Gặp lúc cần đến tôi, tôi phải lấy sự tử tế ra mà đối lại. Không lẽ tôi ghẻ lạnh? Tôi đành xếp tập giấy đang viết dở lại, đi theo anh ấy vậy... (Nam Cao) VD 4 (dùng từ ngữ ước lệ): Biết rất rõ về tôi, địch quyết bắt tôi khuất phục. Nhưng tôi quyết giữ vững lập trường chiến đấu của mình. ( Nguyễn Ðức Thuận) -Tác dụng : có tác dụng liên kết các bộ phận ấy lại với nhau. - Đặc điểm nhận diện: Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ trái nghĩa , phủ định. 6. Phép tỉnh lược: - Định nghĩa:là cách rút bỏ những từ ngữ có ý nghĩa xác định ở những chỗ có thể rút bỏ và muốn hiểu được , phải tìm những từ ngữ có ý nghĩa xác định ấy ở những câu khác. VD ; Chị tôi rất thích ăn khoai luộc. Má tôi thường mua về cho chị. => Câu 2 bị lược mất từ khoai lang. -Tác dụng : liên kết và tránh lặp từ - Đặc điểm nhận diện: những câu không đủ các thành phần , thường là chủ ngữ và vị ngữ BÀI TẬP 1.Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến. Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa” . (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục) ( Trả lời: Các phép liên kết được sử dụng là: - Phép lặp: “Trường học của chúng ta” - Phép thế: “Muốn được như thế” thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.) 2: .Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng: - Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác, đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. (Hồ Chí Minh) (phép nối ) - Một hồi còi khàn khàn vang lên. Tiếp theo là những tiếng bước chân bình bịch, những tiếng khua rộn rã: phu nhà máy rượu bia chạy vào làm. (Nam Cao) ) (phép nối ) - Nghe chuyện Phù Ðổng Thiên Vương, tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi, sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn thô sơ giản dị, như tâm hồn tất cả mọi người thời xưa. Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng. Tuy thế người trai làng Phù Ðổng vẫn còn ăn một bữa cơm... (Nguyễn Ðình Thi)( Phép thế ) CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN 1. Thao tác lập luận giải thích: - Khái niệm :Là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề. -Nhận diện : + Các câu dưới dạng khái niệm ( định nghĩa )có từ là. +Các câu có dạng trả lời cho câu hỏi vì sao?, tại sao ? Với những quan hệ từ như: vì, bởi vì,các phó từ: sẽ, VD: 1 Khiêm tốn là tính nhã nhặn,biết sống một các nhún nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi Lòng khiêm tốn có thể được coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật xử thế và đối đãi với sự vật. Tại sao con người phải khiêm tốn? Đó là vì cuộc đời là một cuộc đấu tranh bất tận mà tài nghệ của mỗi cá nhân tuy là quan trọng nhưng thực ra chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la .( Trần Thu Hường). VD: 2 “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”. ( Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu) 2.Thao tác lập luận chứng minh: -Khái niệm : Dùng những bằng chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng. -Nhận diện : + Những bằng chứng ( dẫn chứng ) là những con người, sự việc cụ thể tiêu biểu (nhiều người thừa nhận –được thẩm tra) +Những bằng chứng có thể là những lập luận có cơ sở thuyết phục. VD: Oan Đix Nây từng bị tòa báo sa thải vì thiếu ý tưởng. Ông cũng nếm mùi sa thải nhiều lần trước khi sáng tạo nên Đixn –nây –len. Lúc còn nhỏ, Lui Pax- tơ chỉ là một học sinh trung bình. Về môn hóa, ông đứng hạng 15 trong số 22 học sinh trong lớp. Henri Pho thất bại và cháy túi năm lần trước khi thành công. Vậy bạn chỉ lo sợ thất bại . Điều đáng sợ hơn là bạn đã bỏ nhiều cơ hội chỉ vì không cố gắng hết mình. ( sưu tầm ). Một người mà lúc nào cũng sợ thất bại, làm gì cũng sợ sai lầm, là một người sợ hãi thực tế,trốn tránh thực tế và suốt đời không bao giờ có thể tự lập được. Bạn sợ sặc nước thì bạn không biết bơi; bạn sợ nói sai thì bạn không nói được ngoại ngữ! Một người không chịu mất gì thì sẽ không được gì. Sai lầm cũng có hai mặt. Tuy nó đem lại tổn thất, nhưng nó cũng đem lại bài học cho đời. (Không sợ thất bại) VD: 2 “Người chân chính là người có nhiều phẩm chất: yêu quê hương đất nước, đồng bào, có kiến nước, bào, có thức có nghề nghiệp có ích cho xã hội, biết lao động hội, mưu cầu hạnh phúc.Và sự đồng cảm là yêu cầu sơ đẳng và cơ bản của đạo làm người.” 3.Thao tác lập luận phân tích: -Khái niệm : Là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng. -Nhận diện : + Tìm luận điểm chính ( Có thể căn cứ vào câu chủ đề ). Tức là xác định đối tượng phân tích. + Tìm các khía cạnh cụ thể làm rõ đối tượng . VD :1 Làm nên sự nghiệp ấy đương nhiên là những con người Việt Nam với những điểm mạnh và điểm yếu của nó. Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là yêu cầu hàng đầu. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản do thiên hướng chạy theo những môn học thời thượng, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay ,học vẹt. Không nhanh chóng lấp đầy những lỗ hổng này , thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đầy những tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng. ( Vũ Khoan , Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới). Vd :2 “ Nói tới sách là nói tới trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích lũy truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi. Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những qui luật của nó, hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước khác nhau với những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hóa, những truyền thống, những khát vọng. Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.” ( Bàn về việc đọc sách) Thao tác lập luận so sánh: -Khái niệm : là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau,.( Làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong mối tương quan với đối tượng khác.) -Nhận diện : + Xác định hai đối tượng : đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh. + Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau . VD:1 So sánh nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống Nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống là hai dạng đề cụ thể của nghị luận xã hội. Nghĩa là, bàn bạc để hiểu một cách thấu đáo cũng như vận dụng vấn đề nghị luận vào đời sống và bản thân.Vấn đề đạo lí có tính chất truyền thống nhằm rèn luyện đạo đức nhân cách. Vấn đề hiện tượng đời sống mang tính thời sự nóng hổi nhằm mục đich rèn luyện ý thức công dân. Đối tượng nghị luận có khác nhau nhưng cách làm bài giống nhau VD:2 “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” Nguyễn Du, Bạch Cư Dị so tiếng đàn với tiếng suối. Thế Lữ lại so tiếng hát trong với nước ngọc tuyền (suối ngọc). Những người này không miêu tả trực tiếp tiếng suối. Chỉ có Nguyễn Trãi cho tiếng suối là tiếng đàn cầm. Có lẽ đó là hình ảnh gần nhất với hình ảnh trong câu thơ này. Có thể chẳng phải ngẫu nhiên. Nguyễn Trãi sành âm nhạc. Bác Hồ cũng thích âm nhạc. Tiếng hát của một danh ca Pháp từng thích nghe thời trẻ, đến tuổi bảy mươi Bác còn nhờ chị Mađơlen Rípphô tìm lại hộ. Tiếng suối ngàn của đất nước hay đó là tiếng hát của trái tim người nghệ sĩ yêu đời. (Lê Trí Viễn) Vd :3 “Các cụ ưa màu đỏ choét, ta lại ưa màu xanh Các cụ ưa màu đỏ choét, ta lại ưa màu xanh nhạt.Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn các cô gái xinh xắn ngây thơ các cụ coi như là làm một việc tội lỗi, ta thì xem như đang đứng trước một cách đồng xanh. Cái tình đang đứng trước một cách đồng xanh. Cái tình của các cụ chỉ là hôn nhân, còn cái tình của chúng ta thì muôn hình vạn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái đắm, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” Thao tác lập luận bình luận: -Khái niệm : là bàn bạc, nhận xét, đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại; nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá của mình -Nhận diện : +Bình luận thường có phần chủ quan của người viết ( người nói). Tuy nhiên vẫn dựa vào những cơ sở chung + Đó là nhận xét, đánh giá đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại. VD:1 Thần chết trao lưỡi hái cho những trai tráng đi xe máy hung hăng đánh võng, lạng lách vượt ẩu trên phố. Những kẻ hoặc không biết luật hoặc không thèm biết đến luật giao thông . Những kẻ đầu óc trống rỗng không còn gì để tự tin và tự hào ngoài việc “ khủng bố” người đi đường bằng những cú vượt phải, tạt qua sát sạt trên đầu xe người đi đường khác,gây ớn lạnh sống lưng và lấy nỗi khủng khiếp của kẻ khác làm khoái cảm Rõ ràng, ngoài những hạn chế khách quan thì ý thức còn hết sức non kém của một số người dân Việt Nam khi tham gia giao thông đang là nguyên nhân quan trọng cướp đi sinh mạng của nhiều người. ( Võ Thị Hảo, báo điện tử Vietnamnet,ngày 12-12-2006) Vd :2 “Cần thấy được sức mạnh của tri thức trong mọi Cần thấy được sức mạnh của tri thức trong mọi lĩnh vực của cuộc sống kinh tế, quân sự, khoa họcCũng cần nói thêm muốn có tri thức thì phải học, phát triển giáo dục không riêng bản thân ta mà mọi người, mọi dân tộc, mọi đất nước, cũng cần ý thức tầm quan trọng của nó mà đầu tư cho phù hợp. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tri thức, đó là một sự đầu tư đầy ý nghĩa và mang tính sống còn của mỗi quốc gia, nhìn vào đất nước nhỏ bé Singapo là thấy rõ nhất..” Thao tác lập luận bác bỏ: -Khái niệm : Là cách trao đổi, tranh luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai. Là cách đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng khoa học để phủ nhận ý kiến, quan điểm thiếu chính xác của người khác. Từ đó nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe. -Nhận diện : + Tìm câu nêu luận điểm ( câu chủ đề ): thường đặt ở đầu câu. + Xác định câu bác bỏ: thường có dùng từ phủ định hoặc câu hỏi tu từ VD:1 “ Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu? Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự? Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người? Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này: Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra. ” (Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức VD :2 “Nhiều bạn trẻ ngộ nhận rằng, hai người có nhiều điểm tương đồng trong suy nghĩ, cách sống thì cuộc sống vợ chồng sẽ rất hợp nhau. Vì vậy khi chọn người yêu hoặc bạn đời, các đừng chỉ nhìn vào biểu hiện bên ngoài mà đã vội cho rằng đấy chính là người hợp “gu” với mình. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ nếu hai bạn cùng có chung quan niệm sống, cá tính mạmh mẽ thì thường nảy sinh mâu thuẫn, sẽ không ai chịu nhường ai cả. Bạn có thể cùng sở thích về văn học, điện ảnh ca nhạc, vui chơi, giải trí – ấy là điều tốt nhưng nếu hai người cùng đều có ý muốn an nhàn, hưởng thụ, ích kỉ thì e rằng tổ ấm của bạn sẽ chẳng có ai “giữ lửa” cho hạnh phúc cả”. SƠ ĐỒ Bài tập vận dụng Thao tác giải thích “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”. ( Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu) Thao tác chứng minh “Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho KH&CN vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho KH&CN đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức KH&CN của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN (kết nối thông tin với mạng Á- Âu, mạng VinaREN thông qua TEIN2, TEIN4,” (Khoa học công nghệ Việt Nam trong buổi hội nhập, Mai Hà, Ánh Tuyết – Theo Báo Hà Nội mới, ngày 16/5/2014-) “Việc hình thành các mạng xã hội đã tạo điều kiện cho các bạn trẻ được thỏa sức xây dựng một thế giới ảo và một cuộc sống ảo cho riêng mình. Trong thế giới đó nhiều chuẩn mực, lễ nghi trong giao tiếp ngoài đời đã không còn và vì thế những phong cách và cá tính “chính hiệu” đã ra đời. Lướt qua một vài “chat room” ta bắt gặp những cách trình bày, biểu cảm khác lạ của ngôn từ. Xu hướng đơn giản hóa là khuynh hướng phổ
Tài liệu đính kèm: