Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện năng lực độc lập của học sinh qua việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương nhóm Halogen Lớp 10 trung học phổ thông

doc 38 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 06/01/2026 Lượt xem 50Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện năng lực độc lập của học sinh qua việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương nhóm Halogen Lớp 10 trung học phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện năng lực độc lập của học sinh qua việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương nhóm Halogen Lớp 10 trung học phổ thông
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC ĐỘC LẬP CỦA
HỌC SINH QUA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG NHÓM HALOGEN LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo triết lí “lấy người học làm trung tâm” được đặt ra một cách cấp thiết. Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. 
Xã hội ngày càng phát triển, nguồn tri thức nhân loại ngày càng phong phú và tăng lên hàng ngày với cấp số nhân. Do vậy, trong giáo dục, học sinh (HS) không những học kiến thức trong nhà trường mà còn phải liên hệ với thực tế trong từng môn học, tạo mối liên kết liên môn giữa các môn học nhằm hướng tới hoạt động tích cực trong học tập và phát huy tối đa khả năng tư duy của bộ não. 
Từ thực trạng dạy và học hiện nay, nhiều HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chỉ là nhớ kiến thức, học bài nào biết bài đó mà chưa rèn luyện và phát triển khả năng tư duy đa hướng. Nhiệm vụ đặt ra cho người giáo viên (GV) trong công tác giáo dục và giảng dạy là không những giúp HS khám phá các kiến thức mới mà còn khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức. Giữa lúc cả xã hội bức xúc với “đọc - chép” và thói quen “học vẹt” của nhiều HS thì việc ứng dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) cùng với các PPDH tích cực khác đã đem lại rất nhiều lợi ích. 
Sơ đồ tư duy là một kĩ thuật dạy học tích cực giúp HS học tập hiệu quả, tiết kiệm thời gian, giúp tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kỹ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn. SĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của SĐTD và tổng quan toàn bộ kết quả ra sao. Sử dụng SĐTD giúp tiết kiệm thời gian học tập, tạo được tư duy logic và hệ thống trong từng bài, từng chương của môn học cũng như tạo tính liên môn trong học tập. SĐTD cũng giúp GV hoạch định kế hoạch, xây dựng tiến trình bài dạy và lựa chọn PPDH thích hợp nhằm tích cực hoá hoạt động người học.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện năng lực độc lập của học sinh qua việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương nhóm halogen lớp 10 trung học phổ thông”.
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Sử dụng SĐTD trong dạy học đã và đang được áp dụng ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Ở Việt Nam, vài năm trở lại đây, SĐTD đã được nghiên cứu và áp dụng khá rộng rãi nhằm giúp GV truyền thụ kiến thức một cách sinh động, hệ thống và mô hình hóa để HS có thể học, tự học tích cực, có một tư duy tổng thể về bài học, giúp dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng kiến thức. Từ kiến thức được diễn đạt trong nhiều trang sách và cả vận dụng thực tế, SĐTD giúp tinh lọc lại chỉ còn trong một sơ đồ, và ngược lại, từ sơ đồ này, HS hình dung, liên tưởng và phát triển kiến thức một cách logic. Sử dụng SĐTD yêu cầu HS phải tự suy nghĩ để thiết lập nội dung bài học theo cách hiểu của mình nên SĐTD thực sự là một công cụ chống “đọc - chép”, “học vẹt” rất hiệu quả. 
2.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học 
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS". Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Cụ thể hóa những định hướng trên, việc đổi mới PPDH hóa học hiện nay là:
- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác 2 chiều.
- Chuyển từ quan điểm PPDH “lấy GV làm trung tâm” sang quan điểm PPDH “lấy HS làm trung tâm”.
- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học và tự đánh giá.
- Học không chỉ nắm kiến thức mà cả PP để đi đến kiến thức.
- Học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm.
- Sử dụng các PPDH tích cực.
- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại.
 	2.2.1. Đổi mới mục tiêu dạy học
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành đổi mới giáo dục, mục tiêu của các cấp học, bậc học có sự đổi mới tập trung vào việc hình thành năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng cho HS.
Mục tiêu của việc dạy và học hóa học tập trung nhiều hơn tới việc hình thành năng lực hành động cho HS. Năng lực hành động là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, có kĩ năng, kĩ xảo và có kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Về cấu trúc năng lực hành động là sự gặp nhau giữa các năng lực chuyên môn, năng lực PP, năng lực xã hội, năng lực cá thể mà tạo thành.
Ngoài những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà HS cần đạt được ta cần chú ý nhiều hơn tới việc hình thành các kĩ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiên cứu khoa học như:
- Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận, kiểm tra kết quả và mô tả.
- Phân loại, ghi chép thông tin, đề ra các giả thuyết khoa học, giải quyết vấn đề, hoàn thành nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu khoa học.
- Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học từ đơn giản tới phức tạp theo hướng độc lập và hoạt động theo nhóm.
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống có liên quan tới hóa học.
Trong các hoạt động, chú trọng tới việc động viên HS phát hiện và giải quyết một cách chủ động, sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hóa học.
2.2.2. Đổi mới hoạt động dạy và hoạt động học
2.2.2.1. Đổi mới hoạt động dạy
Trong hoạt động dạy của người GV cần chú trọng đến vai trò thiết kế, tổ chức, điều khiển các hoạt động của HS để đạt mục tiêu nhằm kích thích nhận thức tích cực của HS, dạy HS làm việc độc lập, hình thành năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề. Các hoạt động của GV bao gồm:
- Thiết kế kế hoạch giờ học bao gồm các hoạt động của HS theo các mục tiêu cụ thể của mỗi bài học hóa học mà HS cần đạt được.
- Tổ chức các hoạt động trên lớp để HS hoạt động cá thể hay hoạt động theo nhóm như:
+ Nêu ra các vấn đề cần tìm hiểu, giúp HS hiểu rõ vấn đề.
+ Tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện tri thức và hình thành kĩ năng hóa học.
+ Vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra.
- Thiết kế và tổ chức thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, hiện tượng thực tế, thí nghiệm hóa học, mô hình mẫu vật, phương tiện kĩ thuật, công nghệ thông tin... như là nguồn kiến thức, tư liệu thông tin để HS khai thác, tìm tòi, phát hiện những kiến thức, kĩ năng hóa học mới.
- Tạo điều kiện để HS được thể hiện sự hiểu biết của mình và được vận dụng nhiều hơn những kiến thức thu được để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời sống sản xuất.
	2.2.2.2. Đổi mới hoạt động học
Trong hoạt động học tập của HS cần chú trọng tới việc phát huy tính tích cực nhận thức, sự nỗ lực trong hoạt động trí tuệ, trong nhận thức có ý chí. Quá trình học tập trở thành quá trình HS tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tự tìm tòi tri thức một cách chủ động tích cực. Như vậy, đã có quá trình chuyển hóa từ quá trình tiếp thu kiến thức một cách thụ động thành quá trình tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự chỉ đạo của GV. Trong quá trình học tập HS cần tiến hành các hoạt động như:
- Nghiên cứu nội dung tư liệu học tập, tự phát hiện vấn đề hoặc nắm bắt vấn đề do GV đưa ra (các nhiệm vụ học tập do GV thiết kế đề ra):
+ Phân tích tư liệu, đưa ra các dự đoán lý thuyết.
+ Đề xuất các phương hướng giải quyết theo các giả thuyết.
+ Suy luận, tiến hành thí nghiệm,quan sát, mô tả, giải thích hiện tượng và đưa ra các kết luận.
+ Báo cáo kết quả hoạt động của cá nhân, của nhóm.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã thu nhận được để giải thích một số hiện tượng hóa học xảy ra trong thực tế đời sống, sản xuất.
- Tự đánh giá và đánh giá sự nắm vững kiến thức, kĩ năng của bản thân và của bạn học.
Như vậy, trong hoạt động học tập, HS không chỉ nắm vững được những kiến thức, kĩ năng cần lĩnh hội mà quan trọng hơn là kĩ năng hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn để tìm tòi, phát hiện ra vấn đề cần nghiên cứu, lĩnh hội. Từ đó, HS có được những kĩ năng hoạt động học tập, đề xuất và thực hiện việc giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo, có kĩ năng đánh giá và tự đánh giá, rút ra bài học và vận dụng vào thực tế đời sống.
2.2.3. Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác hai chiều 
Có 2 cách dạy học hay 2 mô hình dạy học.
- Dạy học theo cách truyền thụ một chiều từ GV đến HS. Việc đánh giá chủ yếu nhằm xem HS nắm được thông tin bao nhiêu và chính xác ở mức độ nào, hơn là xem HS hiểu thế nào.
- Dạy học theo cách hợp tác 2 chiều giữa GV và HS. GV huy động vốn kiến thức đã có ở HS để giúp HS xây dựng kiến thức mới. Việc đánh giá chủ yếu là xem xét sự hứng thú, lợi ích của HS tức là phát huy tính tích cực của HS, cần xác định xem HS hiểu đến đâu, hiểu như thế nào, hơn là xem HS biết và nhớ đến đâu.
- Đổi mới PPDH theo hướng “dạy cách học” là thực hiện việc chuyển dịch mô hình dạy học từ “truyền thụ một chiều” sang “hợp tác hai chiều”. 
- GV sử dụng sự thông hiểu và kiến thức đã có ở HS làm điểm xuất phát của việc dạy. GV trình bày nội dung môn học theo cách giới thiệu những quan niệm và những quá trình, chú trọng làm cho lớp học được định hướng vào sự tương tác và hoạt động nhóm, nhằm dẫn dắt HS tự kiến tạo kiến thức cho mình, hiểu thực tiễn theo cách của mình.
- Mục đích của việc dạy là làm cho HS biết học đúng cách, tức là hiểu. Người dạy phải tự hỏi về những tác động của mình đối với người học, trước hết là có làm cho người học hiểu đúng không? Có biết cách học không?
2.3. Sơ đồ tư duy
 2.3.1. Khái niệm
Sơ đồ tư duy, còn gọi là bản đồ tư duy hoặc lược đồ tư duy, là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
Sơ đồ tư duy là biểu hiện của tư duy mở rộng, nó có chức năng tự nhiên trong tư duy. Đó là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò chiếc chìa khóa vạn năng để khai thác tiềm năng của bộ não.
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não. 
Sơ đồ tư duy luôn lan tỏa từ một hình ảnh trung tâm. Mỗi từ và hình ảnh được lan tỏa lại trở thành một tiểu trung tâm liên kết, cứ thế triển khai thành một chuỗi mắt xích gồm những cấu trúc phân nhánh tỏa ra hoặc hội tụ vào tâm điểm chung và có thể kéo dài vô tận. 
Sơ đồ tư duy có bốn đặc điểm chính sau:
- Đối tượng cần quan tâm được tóm lược trong một hình ảnh trung tâm.
- Từ hình ảnh trung tâm, những chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh.
- Các nhánh được cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết. Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với nhánh có thứ bậc cao hơn.
- Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên kết nhau.
2.3.2. Các loại sơ đồ tư duy
Có 3 loại SĐTD cơ bản
2.3.2.1. Sơ đồ tư duy theo đề cương
Dạng đầu tiên là SĐTD theo đề cương (còn gọi là SĐTD tổng quát). Dạng này được tạo ra dựa trên bảng mục lục trong sách. Dạng SĐTD này mang lại một cái nhìn tổng quát về toàn bộ môn học. Những SĐTD theo đề cương khổng lồ về các môn học dán trên tường sẽ rất hữu ích cho bạn. Chúng giúp bạn có khái niệm về số lượng kiến thức bạn phải chuẩn bị cho kỳ thi. Bạn nên tạo SĐTD theo đề cương cho mỗi môn học.
2.3.2.2. Sơ đồ tư duy theo chương
Kế tiếp, vẽ SĐTD cho từng chương sách riêng biệt. Đối với các chương ngắn khoảng 10-12 trang, có thể tập trung tất cả thông tin trên một trang SĐTD.
Đối với những chương dài khoảng 20 trang trở lên, có thể cần đến 2-3 trang SĐTD. Một SĐTD lí tưởng không nên chỉ lưu lại những ý chính mà còn phải thể hiện đầy đủ tất cả các chi tiết hỗ trợ quan trọng khác.
2.3.2.3. Sơ đồ tư duy theo đoạn văn (từng ý chính)
Một cách khác là vẽ SĐTD theo từng đoạn văn nhỏ trong sách. Mỗi SĐTD dùng để tóm tắt một đoạn văn hoặc một trích đoạn trong sách.
SĐTD theo đoạn văn giúp tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà không cần đọc lại đoạn văn đó, có thể vẽ những SĐTD tí hon này lên những nhãn dán nhỏ và đính chúng trong sách giáo khoa. 
2.3.3. Phương pháp lập sơ đồ tư duy
Để lập SĐTD không khó, chỉ cần một tờ giấy trắng, bút bi, bút chì hoặc bút sáp màu, nhắm mắt lại, sử dụng bộ não, trí tưởng tượng và liên kết cùng với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc,  sẽ giúp khai phá tiềm năng vô tận của bộ não.
Một số hướng dẫn khi tạo SĐTD:
Việc lập SĐTD bắt đầu từ trung tâm với 1 chủ đề hoặc hình ảnh của chủ đề. Nên dùng hình ảnh vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn.
- Cần sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não rất tốt.
- Nối các nhánh chính (cấp 1) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2, bằng các đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng.
- Mỗi từ hoặc ảnh hoặc ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ.
- Nên cố gắng tạo ra một kiểu sơ đồ riêng cho mình (kiểu đường kẻ, màu sắc,).
- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều.
- Cần bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
2.3.4. Các quy tắc trong sơ đồ tư duy
Nhấn mạnh:
Đây là một quy tắc quan trọng vì có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo. Muốn đạt hiệu quả nhấn mạnh tối ưu. Chúng ta cần :
- Dùng một hình ảnh trung tâm hoặc từ ngữ có màu sắc, kích cỡ thật lôi cuốn.
- Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD giúp tăng cường khả năng hình dung.
- Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in để chỉ tầm quan trọng giữa các thành phần.
- Cách dòng có tổ chức, thích hợp: Giúp SĐTD dễ dàng khai triển và trông đẹp mắt, bố cục rõ ràng.
Liên kết 
- Dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh hoặc khác nhánh: Nhờ dùng mũi tên, bạn sẽ nhanh chóng tìm thấy các mối liên hệ giữa các vùng trong SĐTD.
- Dùng màu sắc: Màu sắc là một trong những công cụ tăng cường trí nhớ và sáng tạo hiệu quả nhất.
- Dùng kí hiệu: Giúp tiết kiệm thời gian.
Mạch lạc 
- Diễn đạt rõ ràng, hệ thống giúp chúng ta tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn.
- Mỗi dòng chỉ có một từ khóa.
- Chữ viết rõ ràng giúp não dễ chụp ảnh hơn.
- Các vạch liên kết luôn nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với hình ảnh trung tâm.
- Ảnh vẽ rõ ràng trông đẹp mắt và hấp dẫn giúp tư duy mạch lạc.
Tạo phong cách riêng 
Mỗi người đều là những cá thể độc đáo. SĐTD phải phản ánh được lối tư duy độc đáo trong bộ não mỗi người. 
2.3.5. Hướng dẫn thực hành sơ đồ tư duy
Trước khi tập vẽ SĐTD cần lưu ý cách ghi nội dung ở các nhánh của SĐTD bằng cách vận dụng “phương pháp ghi chép hiệu quả” của tác giả Stella Cottrell:
- Dùng từ khóa và ý chính, viết cụm từ, dùng các từ viết tắt.
- Có tiêu đề, đánh số các ý, liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,...
- Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng, sử dụng màu sắc để ghi.
Bước 1: Chọn từ trung tâm (hay còn gọi là từ khóa, keyword) là tên của một bài hay một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác hoặc là một hình ảnh, hình vẽ mà ta cần phát triển.
Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1. Các nhánh cấp 1 chính là các nội dung chính của bài học hay chủ đề đó (hay tên các mục của SGK).
Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2, 3,và hoàn thiện SĐTD. Các nhánh con cấp 2, 3, chính là các nhánh con của nhánh con trước đó (hay nói rõ hơn nhánh con cấp 2, 3, là các ý triển khai của nhánh trước đó).
Khi thiết kế SĐTD cần tránh ghi lại nguyên cả đoạn văn dài, ghi chép quá nhiều ý không cần thiết, dành quá nhiều thời gian để ghi chép. Chỉ vẽ những hình ảnh có liên quan đến chủ đề kiến thức, tránh vẽ hoặc đưa vào những hình ảnh không liên quan đến bài học làm mất nhiều thời gian vẽ, viết. Cần chọn lọc những ý cơ bản, kiến thức cần thiết, VD minh họa để có nhiều thông tin cho bài học.
Việc thiết kế SĐTD của một bài học phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản cần chốt lại của bài học đó. 
2.3.6. Ứng dụng sơ đồ tư duy trong học tập
SĐTD được ứng dụng rộng rãi trong việc thiết kế các hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau. Trong học tập, SĐTD được ứng dụng trong các hoạt động sau:
2.3.6.1. Ứng dụng trong đọc sách
Đọc là tiếp thu ý của tác giả từ cuốn sách hoặc đọc là hấp thụ được từ ngữ trong trang sách. 
SĐTD về cách đọc sách sẽ giúp ta thực hiện những điều trên một cách mạch lạc và khoa học, hợp lí nhất đảm bảo rằng những thông tin mà ta đọc được từ sách là đầy đủ. Bởi vì trong SĐTD dùng nhiều hình ảnh bên cạnh những nội dung trọng tâm sẽ giúp ta gợi nhớ tốt hơn.
VD: SĐTD trong đọc sách.
Hình 2.1. Ứng dụng của SĐTD trong đọc sách
2.3.6.2. Ứng dụng trong ghi chép
Việc sử dụng SĐTD trong ghi chép sẽ giúp ta nhớ được những ý của việc ghi chép, có thể hiểu được những ý của bài học.
Từ việc hình ảnh trung tâm là vấn đề trọng tâm của những ý mà mình cần ghi chép, có thể là cây bút. Sau đó là các nhánh phụ gồm những ý mà liên quan đến những ý mà mình cần quan tâm.
VD: SĐTD trong ghi chép.
Hình 2.2. Ứng dụng của SĐTD trong ghi chép
2.3.6.3. Ứng dụng trong thuyết trình
Phát biểu trước đông người, đọc một bài diễn văn hoặc một bài thuyết trình, chúng ta đã thể hiện cả hai mặt: ngôn ngữ cơ thể và tinh thần. Thật khó có thể tránh khỏi những sai lầm trước người nghe. Vì thế chúng ta thấy lúng túng.
Nếu chúng ta dành thời gian để lập SĐTD về tất cả những thông tin cơ bản về bài thuyết trình trước khi quyết định cụ thể chủ đề để nói, ta sẽ thấy dễ dàng hơn.
VD: SĐTD trong thuyết trình.
Hình 2.3. Ứng dụng của SĐTD trong thuyết trình
2.3.6.4. Ứng dụng trong việc ôn tập, thi cử
Ta có thể lập SĐTD lên kế hoạch cho việc ôn tập, chuẩn bị cho việc thi cử của mình. SĐTD này giúp người học thấy được hình ảnh khái quát về các hoạt động trong quá trình thi cử, sự phối hợp trong kế hoạch để đạt hiệu quả cao nhất. 
VD: SĐTD cho việc ôn tập thi cử.
Hình 2.4. Ứng dụng của SĐTD trong việc ôn tập, thi cử
2.3.6.5. Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học
SĐTD sẽ giúp chúng ta làm việc một cách khoa học, hợp lí hơn. Từ ý trung tâm là nghiên cứu khoa học, chúng ta có thể phân ra thành các nhánh phụ như: lựa chọn chủ đề, quy mô phạm vi, xác định thông tin, lên quy trình thiết kế - nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, xử lí phân tích, làm sáng rõ vấn đề, viết báo cáo.
VD: SĐTD trong nghiên cứu khoa học.
Hình 2.5. Ứng dụng của SĐTD trong nghiên cứu khoa học
2.3.6.6. Ứng dụng trong làm việc tổ nhóm
Một nhóm có thể làm việc chung và lập nên một SĐTD bởi các bước sau:
- Mỗi cá nhân vẽ các lược đồ ý tưởng về những gì đã biết được về đối tượng.
- Kết hợp với các cá nhân để thành lập một SĐTD chung về các yếu tố đã biết.
Mỗi người tự nghiên cứu thêm về đề tài, tùy theo yêu cầu mà tất cả chú tâm vào cùng một lĩnh vực để đào sâu thêm hay chia ra mỗi người một lĩnh vực để đẩy nhanh hơn quá trình làm việc. Mỗi người tự hoàn tất trở lại sơ đồ ý tưởng của mình. Kết hợp lần nữa để tạo thành SĐTD của cả nhóm.
SĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của SĐTD và

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_ren_luyen_nang_luc_doc_lap_cua_hoc_sin.doc