Câu hỏi ôn tập thi học sinh giỏi tỉnh môn Ngữ văn Lớp 9

doc 34 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 23/02/2026 Lượt xem 9Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Câu hỏi ôn tập thi học sinh giỏi tỉnh môn Ngữ văn Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Câu hỏi ôn tập thi học sinh giỏi tỉnh môn Ngữ văn Lớp 9
CÂU HỎI ÔN TẬP
PHẦN CHUYÊN ĐỀ 2 THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM SAU CMT8 –TKXX
Câu 1 (2,0 điểm).	
Viết một đoạn văn ngắn, nêu cảm nhận của em về những câu thơ sau trong bài thơ Con cò của Chế Lan Viên:
 Lên rừng xuống bể,	
 Cò sẽ tìm con,
 Cò mãi yêu con.
 Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
 Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
 ( Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục, 2005, trang 46) 	
Hướng dẫn trả lời:
	a. Yêu cầu: Biết trình bày đoạn văn theo yêu cầu, có mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn; các câu liên kết chặt chẽ và đảm bảo các ý cơ bản sau:
	- Đoạn thơ sử dụng sáng tạo biện pháp tu từ ẩn dụ: “Cò”- ẩn dụ cho người mẹ, tình mẹ. Hình ảnh con cò tảo tần, chịu thương chịu khó trong ca dao được tác giả nhấn mạnh ở ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng yêu thương con của người mẹ; mẹ lúc nào cũng ở bên con cho đến suốt cuộc đời. Phép ẩn dụ đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng. Nét độc đáo trong cách sử dụng biện pháp tu từ của tác giả là hình ảnh ẩn dụ vừa dân dã, mộc mạc, mang âm hưởng ca dao; vừa mang tính biểu tượng, đậm chất triết lí, suy tưởng.
- Lời dặn của "cò" giản dị mộc mạc mà hàm nghĩa sâu xa. Dưới hình thức thơ tự do, nhà thơ như dựng lên cả một bầu trời yêu thương bao la mà đặc điểm của nó là không gian và thời gian không giới hạn: Lên rừng - xuống bể - hai chiều không gian gợi ấn tượng về những khó khăn của cuộc đời. Từ không gian xác định (rừng, bể), không gian ngày càng rộng dần thêm đến một không gian tâm tưởng (đi hết đời) vừa bao la vừa sâu thẳm như chính lời ru cất lên từ trái tim của mẹ.
Tấm lòng người mẹ vượt ra ngoài mọi khoảng cách không gian, thời gian. Đó là quy luật bất biến và vĩnh hằng của mọi tấm lòng người mẹ trên đời mà nhà thơ đã khái quát, đúc kết trong câu thơ đậm chất suy tưởng và triết lí. 
Câu 2 (10,0 điểm)
 “ ...Thơ là chiều sâu, là sự chắt lọc, kết tinh” (Nguyễn Văn Hạnh) 
 Hãy làm sáng tỏ ý kiến trên bằng việc phân tích đoạn thơ trong bài Con cò của Chế Lan Viên: 
 “...Dù ở gần con
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
À ơi !
Một con cò thôi,
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.
Ngủ đi ! Ngủ đi !
Cho cánh cò, cánh vạc,
Cho cả sắc trời
Đến hát
Quanh nôi.”
 (SGK Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục 2005)
Hướng dẫn trả lời:
 A. Yêu cầu cần đạt
Bài làm của học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau:
* Yêu cầu về kỹ năng:
Biết làm bài nghị luận văn học về một vấn đề trong tác phẩm thơ; Thao tác tổng hợp tốt, bố cục rõ ràng chặt chẽ; Hành văn trôi chảy, mạch lạc, có cảm xúc; Chữ viết rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp
* Yêu cầu về kiến thức:
 Trên cơ sở hiểu chắc chắn về tác giả, tác phẩm và giá trị nội dung, nghệ thuật, học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng bài viết cần đáp ứng các yêu cầu sau:
1. Giải thích ngắn gọn ý kiến:
- Ý kiến đề cập đến đặc điểm của thơ trữ tình: Thơ là chiều sâu, là sự chắt lọc, kết tinh: Chiều sâu của tâm hồn con người; Sự chắt lọc ngôn ngữ, hình ảnh sự kết tinh tình cảm, cảm xúcmang tính khái quát cao.
- Nhờ thế tiếng nói của cái tôi trữ tình có thể động chạm đến tâm tư, tình cảm, của con người và trở thành tiếng nói thầm kín của con người.
2. Phân tích đoạn thơ để làm rõ nhận định:
- Giới thiệu khái quát về bài thơ Con cò, vị trí và nội dung đoạn trích.
- Đoạn thơ của Chế Lan Viên đã khái quát lên tình mẫu tử thiêng liêng, cao đẹp, thẫm đẫm triết lí song cũng giản dị, gần gũi, thân thuộc với mọi người.
+ Từ lúc còn nhỏ đến khi lớn khôn trưởng thành bất chấp thời gian, khoảng cách mẹ luôn theo sát, yêu thương và nâng đỡ con, dù nơi đâu và trong suốt cả cuộc đời:
 Dù ở gần con,
 Dù ở xa con,
 Lên rừng xuống bể,
 Cò sẽ tìm con,
 Cò mãi yêu con.
+ Từ sự thấu hiểu tấm lòng người mẹ, từ xúc cảm về tình mẫu tử, nhà thơ đã khái quát thành một quy luật tình cảm có ý nghĩa rộng lớn, bền vững và sâu sắc: Tình yêu thương của mẹ vẫn đi theo ta suốt cuộc đời (chú ý phân tích các từ ngữ “dù, vẫn, vẫn là” để khẳng định tình mẹ). Đó là triết lí thấm thía sâu sắc về chiều sâu tình mẫu tử. Quy luật ấy luôn là vĩnh hằng, bất biến: 
	 Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
	 Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
- Chế Lan Viên đã khái quát lên ý nghĩa lời ru với cuộc đời mỗi con người: 
+ Hình ảnh con cò là điểm tựa cho những liên tưởng, tưởng tượng của nhà thơ. Đây là hình ảnh vừa gần gũi, xác thực, lại giàu ý nghĩa biểu tượng và sắc thái biểu cảm. Sự hóa thân của người mẹ vào cánh cò mang ý nghĩa sâu xa. Con cò là cuộc đời: là những gì ngọt ngào, cay đắng, mà mẹ từng trải qua. Người con đã cảm nhận những hi sinh gian khổ của mẹ để hiểu được rõ hơn những lời yêu thương, khát vọng sâu sắc và cháy bỏng: 
	 Một con cò thôi,
	 Con cò mẹ hát
	 Cũng là cuộc đời
	 Vỗ cánh qua nôi.
+ Đây là lời hát ru con được viết trong thời hiện đại. Nhà thơ sử dụng hình ảnh con cò - một chất liệu cũ để gửi gắm vào đó những ý tưởng nghệ thuật mới mẻ. Lời ru vừa thấm điệu hồn của ca dao, dân ca, vừa là khúc hát ru theo dòng xúc cảm miên man, dằng dặc, được gợi lên từ thế giới nội tâm sâu kín của con người.
 + Câu cuối là một hình ảnh đẹp: cánh cò chao nghiêng hát quanh nôi ta liên tưởng đến dáng mẹ nghiêng xuống chở che vỗ về con, như nói những lời tha thiết sâu kín của lòng mẹ. Đoạn thơ đẹp trong chất thơ trong trẻo, thuần khiết của điệu ru ngọt ngào, đẹp trong sự vĩnh hằng của tình mẹ bao la. 
3. Đánh giá chung: 
- Đoạn thơ đã thể hiện rõ đặc điểm của thơ trữ tình: 
 + Nghệ thuật: Thể thơ tự do; Ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh thơ mang tính biểu tượng, nhiều câu thơ mang đậm tính triết lí suy tưởng; Giọng thơ mang âm điệu lời ru tạo nên giọng trữ tình đậm đà tính dân tộc, tính hiện đại. 
+ Nội dung: Đoạn thơ là lời ngợi ca về tình mẫu tử thiêng liêng và ý nghĩa lời ru trong cuộc đời mỗi con người.
 - Những câu thơ cất cánh từ tình cảm riêng của cái tôi trữ tình có tính khái quát đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm của mỗi con người.
 PHÂN TÍCH ĐOẠN 1 BÀI NÓI VỚI CON
 Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Trùng Khánh – Cao Bằng ,thấm nhuần những tinh hoa, cái đẹp của dân tộc Tày , Y Phương (1948) là một nhà thơ tiêu biểu cho các dân tộc miền núi .”Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt nhiều màu sắc khác nhau ,phong phú và đa dạng ,nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo ,âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo .Nét độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức .Với Y Phương ,thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt Nam nói chung có thêm một giọng điệu mới ,một phong cách mới “( Từ điển tác giả ,tác phẩm văn học Việt Nam ).
 Đi từ đề tài quen thuộc :tình cảm cha con ,phụ tử thiêng liêng ,nhưng với Y Phương ,trong làng thơ Việt Nam đã có thêm một lối đi ,1 giai điệu mới . Khác với “Chiếc lược ngà “,tình cha con được đặt trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh ,tình cha con trong bài thơ được thể hiện qua lời tâm tình của người cha .Người cha đã bộc lộ lòng yêu thương con qua ước mong con sống xứng đáng ,phát huy truyền thống của,gia đình , quê hương.
“Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ caì nan hoa
Mượn lời người cha nói với con về tình yêu thương của cha mẹ ,sự đùm bọc của quê hương với con ,nhà thơ đã gợi về nguồn sinh dưỡng trong mỗi người chúng ta .Mở đầu bài thơ là khung cảnh gia đình ấm cúng ,đầy ắp tiếng nói cười .Mười một câu thơ như tràn đầy những đầm ấm ,yên vui của tình cảm gia đình ,tình cảm quê hương :
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời .”
Một mái nhà có mẹ có cha và con hạnh phúc vì được sống hạnh phúc trong tình yêu thương .Cha mẹ đã dìu dắt ,nâng đỡ con từ những bướcđi đầu tiên ,đã tìm thấy niềm vui từ con .Hơn thế nữa ,con còn được sinh ra ,lớn lên trong tình yêu thương ,vẻ đẹp của “đồng mình “. “Người đồng mình” yêu lắm con ơi !” Lao động tuy vất vả nhưng cuộc sống của “người đồng mình”tươi vui, mà rất ngọt ngào . Dáng vẻ tuy thô sơ , công việc tuy nặng nhọc (đan lờ , ken vách ) nhưng tâm hồn “người đồng mình “lãng mạn biết bao nhiêu :Họ làm một cách nghệ thuật những công việc của mình (cài nan hoa ,câu hát ) .Con thật hạnh phúc vì con được sống giữa những con người như vậy — những con người khéo tay ,yêu thiên nhiên ,yêu lao động, lạc quan và nhân hậu.
Thiên nhiên đồng mình cũng rất đẹp : Rừng núi quê hương thơ mộng đã dành cho con những gì tinh tuý nhất (hoa ) ,đã nuôi dưỡng con về cả tâm hồn ,lối sống ,”tấm lòng “. Và từng ngày ,con đã lớn lên có cha mẹ nâng đón và mong chờ ,có thiên nhiên thơ mộng, có cuộc sống lao động gắn bó .Con đã trưởng thành trong nghĩa tình của quê hương như vậy đó . Nói với con những điều đó ,cha mong cho con hiểu những tình cảm cội nguồn đã sinh dưỡng con ,để con yêu cuộc sống hơn .Dặn dò con về quê hương ,về “đồng mình “, cha càng muốn con phải khắc cốt ghi xương nơi mình đã sống ,đã trưởng thành . 
PHÂN TÍCH ĐOẠN 2 BÀI NÓI VỚI CON 
Y Phương là nhà thơ dân tộc Tày. Quê anh ở Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng. Từ người lính thời chống Mĩ, anh trở thành nhà thơ.
Thơ của Y Phương mang một vẻ đẹp riêng, "thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ và trong sáng, cách tư duy giàu hình ảnh của người miền núi".
Nói với con của Y Phương là một bài thơ hay, một bông hoa nghệ thuật đầy sắc hương của núi rừng biên giới phía Bắc. Đây là phần thứ hai của bài thơ:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Ở phần đầu, Y Phương đã viết: "Người đồng mình yêu lắm con ơi", thì ở phần hai, mở đầu đoạn thơ ông lại nhấn giọng. Lời cha nói với con nghe thật ngọt ngào thiết tha: "Người đồng mình thương lắm con ơi”. "Người đồng mình" là đồng bào quê hương mình, là bà con dân tộc Tày, dân tộc Nùng,... nơi "nước non Cao Bằng", nơi "gạo trắng nước trong". Phải yêu, phải thương "người đồng
mình" rất đẹp, rất đáng tự hào. Không bao giờ lùi bước trước mọi thử thách khó khăn. Tâm càng sáng, chí càng cao càng bền, tầm nhìn càng xa càng rộng:
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Cha nói với con, dạy bảo con về đạo lí làm người. Trong bất cứ thời gian nào, hoàn cảnh nào "cha vẫn muốn", cha vẫn mong con biết ngẩng cao đầu và sống đẹp. Quê hương sau những năm dài chiến tranh còn nhiều khó khăn chưa đẹp, chưa giàu. Đường đến các bản còn ''gập ghềnh", còn nhà sàn vách nứa, thung còn "nghèo đói" thiếu thốn khó khăn. Con nhớ là "không chê... không chê...":
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói.
Con phải biết sống mạnh mẽ, kiên cường "như sông như suối". Con phải giàu chí khí và có bản lĩnh, dù phải "lên thác xuống ghềnh" vẫn "không lo cực nhọc".
Các điệp ngữ: "không chê... không chê", "sống trên... sống trong... sống như..." đã làm cho vần thơ phong phú âm điệu nhạc điệu, lời cha dặn con vô cùng thiết tha. Cách ví von, cách vận dụng thành ngữ làm cho lời cha dặn vừa cụ thể mộc mạc, vừa hàm nghĩa, sâu lắng, ân tình:
Sống như sông như suối
 Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc.
Các từ ngữ, hình ảnh: "thô sơ da thịt” "nhỏ bé", "tự đục đá kê cao quê hương" đã thể hiện bản chất, bản lĩnh sống của đồng bào mình, bà con quê hương mình. Ba tiếng "người đồng mình" được nhắc đi nhắc lại nhiều lần đã biểu lộ niềm yêu mến tự hào quê hương không thể kể xiết. "Người đồng mình" sống giản dị mộc mạc "thô sơ da thịt", chịu khó chịu khổ, kiên nhẫn trong lao động làm ăn. Chẳng bao giờ "nhỏ bé", chẳng bao giờ sống tầm thường trong cuộc đời và trước thiên hạ. Cha nói với con là nói về đạo lí làm người, cha nhắc con phải biết sống đẹp, sống mạnh mẽ, sống có nhân cách. Con phải biết nêu cao lòng tự hào, biết giữ lấy và phát huy truyền thống cao đẹp của "người đồng mình", của quê hương mình: Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.
Con chuẩn bị lên đường, như cánh chim bay tới chân trời xa (đi học, đi bộ đội, đi làm ăn?). Cha dặn con, cha khích lệ con, "tuy thô sơ da thịt", nhưng không thể, không được sống tầm thường, sống "nhỏ bé" trước thiên hạ. Bài học làm người mà cha dạy con tuy ngắn gọn mà thấm thía và lay động biết bao:
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
Y Phương đã có một cách nói cụ thể, nói bằng hình ảnh mang phong cách dân tộc mình, "người đồng mình". Lời thơ bình dị, tình cảm chân thành, giọng thơ tha thiết. Cha nói với con, cha dạy con bài học làm người, biết giữ gìn phẩm giá và đạo lí: yêu mến tự hào quê hương, sống có chí khí, sống đẹp như "người đồng mình" đã bao đời nay.
Nói với con là một bài thơ hay thể hiện tình thương con, niềm tin của người cha đối với đứa con yêu quý. Kết thúc bài thơ là tiếng cha khích lệ con lên đường.
Đọc thơ của Y Phươg, chúng ta bồi hồi nhớ lại lời ru của mẹ hiền thời thơ ấu:
Con ơi muốn nên thần người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha...
Chuyên đề 16: "Sang thu" của Hữu Thỉnh. 
(Người soạn: admin Học văn lớp 9)
I.Kiến thức cơ bản:
1.Tác giả:
- Nhà thơ Hữu Thỉnh tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm 1942, quê ở huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Năm 1963, Hữu Thỉnh nhập ngũ, vào binh chủng Tăng – Thiết giáp rồi trở thành cán bộ văn hóa, tuyên huấn trong quân đội và bắt đầu sáng tác thơ.
- Là nhà thơ viết nhiều, viết hay về những con người ở nông thôn, về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo, đang biến chuyển nhẹ nhàng.
- Ông đã tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khoa III,IV,V.
- Từ năm 2000, Hữu Thỉnh là Tổng thứ kí Hội Nhà văn Việt Nam.
2.Tác phẩm:
a. Hoàn cảnh sáng tác:
- Bài thơ sáng tác năm 1977.
- In trong tập “Từ chiến hào đến thành phố”
b. Bố cục: 3 phần tương ứng với ba khổ thơ.
- Khổ 1: Những tín hiệu giao mùa
- Khổ 2: Bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa
- Khổ 3: Những suy tư và chiêm nghiệm của nhà thơ.
c. Nội dung bao trùm:
Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tế và giàu cảm xúc của một tâm hồn nhạy cảm trước sự biến đổi của thiên nhiên tạo vật lúc giao mùa ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Thông qua đó biểu lộ sâu kín tình yêu thiên nhiên, cuộc đời, tha thiết với sự yên bình của quê hương, đất nước.
d. Nghệ thuật:
- Hình ảnh vừa gần gũi, thân thuộc, vừa mới mẻ, lạ lẫm.
- Ngôn từ giản dị mà gợi cảm, vừa miêu tả chính xác trạng thái của tạo vật, vừa thổi hồn vào tạo vật những cảm giác rất người.
- Thể thơ 5 chữ, cách thể hiện mộc mạc, tự nhiên như lối nói của người thôn quê.
- Mạch thơ: mạch chảy tự nhiên của cảm xúc: từ ngỡ ngàng, bâng khuâng trước những tín hiệu giao mùa nơi thôn xóm đến say mê trước những cảnh vật sang thu xa rộng, và rồi trầm ngâm trước những biến đổi bên trong của thiên nhiên và con người.
II.Đọc – hiểu văn bản:
“Sang thu” được viết vào cuối năm 1977, in lần đầu trên báo Văn nghệ, sau đó được tác giả chọn đưa vào một số tập thơ. Bài thơ cho thấy những cảm nhận tinh tế của Hữu Thỉnh về sự biến chuyển của đất trời từ hạ sang thu ở vùng đồng bằng nông thôn Bắc bộ. Đặc sắc nổi bật dễ thấy ở “Sang thu” là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả và biểu cảm. Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình gắn liền với sự biến chuyển của thiên nhiên – thời điểm chuyển giao hai mùa làm nên kết cấu chặt chẽ của bài thơ; bài thơ cũng là mạch cảm xúc ngỡ ngàng đến suy tư của nhà thơ.
- Sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ về giây phút thu đã về (nhận ra qua khứu giác, xúc giác và thị giác: hương ổi, gió se và sương qua ngõ;Diễn đạt qua các từ ngữ: bỗng,nhận ra, phả, hình như, chùng chình)
- Cảm nhận tinh tế của nhà thơ về biến chuyển trong không gian ( từ vườn, ngõ, sông , mây, sấm, hàng cây)
- Chút nghĩ suy về con người và cuộc đời qua cách khép lại với hình ảnh tiếng sấm vừa thực vừa hàm ẩn suy tư.
Bài thơ tự nhiên, gợi cảm, giản dị và thi vị. Cảm xúc về sự chuyển mùa tinh tế. Qua bài thơ, thấy lòng yêu thiên nhiên quê hương và một tâm hồn có những trải nghiệm sâu sắc.
III.Một số dạng đề tự luận cơ bản:
Bài tập 1: Bằng đoạn văn khoảng 8 câu, hãy phân tích sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ về biến chuyển trong không gian lúc sang thu ở khổ thơ:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
(Sang thu – Hữu Thỉnh)
Bài tập 2: Theo cách diễn dịch (hoặc qui nạp) viết đoạn văn cảm nhận vẻ đẹp của đoạn thơ sau:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
(Sang thu – Hữu Thỉnh)
Bài tập 3: Viết đoạn văn khoảng 6 câu trình bày cách hiểu của em về hai câu thơ cuối bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh:
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Bài tập 4: Viết đoạn văn khoảng 6 câu giải thích ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh “tiếng sấm” trong câu thơ “Sấm cũng bớt bất ngờ/Trên hàng cây đứng tuổi”.
Bài tập 5: Mùa thu quê hương qua bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Bài tập 6: Cảm nhận của em về khổ 1 và 2 trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Gió chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Bài tập 7: Phân tích cảm nhận tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh trước những biến đổi của đất trời qua bài “Sang thu”.
Bài tập 8: 
“Sang thu” của Hữu Thỉnh không chỉ có hình ảnh đất trời nên thơ mà còn có hình tượng con người trước những biến chuyển của cuộc đời ở thời khắc giao mùa.
Hãy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài tập 9: Cảm nhận của em về vẻ đẹp bài thơ “Sang thu” (Hữu Thỉnh)
Bài tập 10:Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên lúc giao mùa trong đoạn thơ sau:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Gió chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
(Sang thu – Hữu Thỉnh)
Gợi ý và đáp án.
Bài tập 1: 
*Về nội dung:
- Phân tích để thấy biến chuyển trong không gian được nhà thơ cảm nhận tinh tế qua hương ổi chín đậm, nồng nàn phả vào gió se, lan tỏa trong không gian và qua làn sương mỏng “chùng chình” chuyển động chầm chậm, nhẹ nhàng đầu ngõ, đường thôn.
- Trạng thái cảm giác về mùa thu đến của nhà thơ được diễn tả qua các từ: “bỗng”,”hình như” mở đầu và kết thúc khổ thơ, đó là sự ngạc nhiên thú vị như còn chưa tin hẳn.
*Về hình thức:
- Trình bày một đoạn văn khoảng 8 câu, có thể dùng đoạn diễn dịch, quy nạp, hoặc tổng – phân – hợp.
- Diễn đạt mạch lạc, tự nhiên, không mắc lỗi.
Đoạn văn mẫu:
Mở đầu “Sang thu” là những cảm nhận tinh tế, bất ngờ của nhà thơ Hữu Thỉnh trước không gian nơi đồng quê êm đềm, dịu dàng mà thơ mộng(1):
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Đặt từ “bỗng” ở đầu khổ thơ, tác giả cho thấy, mùa thu đến khá bất ngờ và đột ngột, dường như không hẹn trước(2). Bắt đầu mùa thu không phải là nét đặc trưng của trời mây hay sắc vàng hoa cúc như trong thơ cổ mà là “hương ổi” nơi vườn quê(3). Cái hương thơm nồng nàn ấy, thân thuộc ấy đang “phả vào trong gió se” – thứ gió heo may, khô lạnh, dịu dàng chỉ xuất hiện độ giao mùa ở miền Bắc(4). Dùng từ “phả” tác giả gợi hương thơm ngan ngát của ổi chín như lắng đọng, sánh lại, lan tỏa trong không gian, thấm vào tâm tưởng, đánh thức những kỉ niệm tuổi thơ(5). Từ láy gợi hình cùng nghệ thuật nhân hóa – “sương chùng chình qua ngõ” gợi hình ảnh làn sương duyên dáng, yểu điệu như đang đợi chờ, đang lưu luyến nửa ở, nửa đi(6). Bằng tất cả các giác quan: khứu giác, xúc giác, và thị giác, tác giả cảm nhận những nét đặc trưng của mùa thu đều hiện diện(7). Phút giây giao mùa của thiên nhiên, cảm thấy rồi, nhìn thấy rồi, vậy mà thi nhân vẫn sững sờ, khó tin: “Hình như thu đã về”.(8)
Bài tập 2: Đoạn văn có thể gồm các ý:
- Hình ảnh được cảm nhận tinh tế kết hợp với trí tưởng bay bổng của nhà thơ.
- Diễn tả hình ảnh đám mây mùa hạ còn sót lại trên bầu trời thu trong xanh, mỏng, kéo dài, nhẹ trôi rất hững hờ như còn vương vấn, lưu luyến không nỡ rời xa, cảnh có hồn.
- Đó là hình ảnh gợi cảm giác giao mùa, hạ đã qua mà thu chưa đến hẳn.
Bài tập 3: Viết đoạn văn:
Cần trình bày được cách hiểu hai câu thơ cả

Tài liệu đính kèm:

  • doccau_hoi_on_tap_thi_hoc_sinh_gioi_tinh_mon_ngu_van_lop_9.doc