TÌM HIỂU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG ĐIỆN BÀN - QUẢNG NAM Học sinh thực hiện: Hà Lê Quỳnh Thư Lớp : 6/3 Trường: THCS Quang Trung LỊCH SỬ ĐIỆN BÀN - QUẢNG NAM Sự ra đời của Điện Bàn - Quảng Nam Lần theo Lịch sử.Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành, năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại Việt là Trần Nhân Tông, vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (bắc Hải Vân) và châu Rí tức Hóa Châu (Nam Hải Vân) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới, người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị .Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.Cư dân Quảng Nam là sự cộng cư trong suốt quá trình mở nước. Người Việt (Kinh) có mặt ở Quảng Nam trước năm 1471, cùng với người Chăm pa, người Hoa. Ngày nay, ở Quảng Nam, ngoài người Việt thuần gốc, người Hoa, còn có người Việt (Kinh) có nguồn gốc tổ tiên lâu đời là người Trung Quốc (người Minh Hương).Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành. Thời chúa Nguyễn Sang thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570). Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc". Đến giữa thế kỷ 17, việc triều chính xứ Đàng Trong suy đồi. Thuế thì nặng; quan lại thì lợi dụng địa vị, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, dân Quảng Nam cũng nổi dậy. Mùa thu năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách chỉ huy. Nhà Tây Sơn tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Thời nhà Nguyễn Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh.Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 phủ Thăng Bình (trước là Thăng Hoa (gồm các huyện Lễ Dương Tam Kỳ, Hà Đông , Quế Sơn và Điện Bàn (với các huyện Hòa Vang Duy Xuyên Diên Phúc ) (sau đổi là Diên Phước), Đại Lộc Thời Pháp thuộc Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái, Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp. 1.1 QUẢNG NAM , Hay gọi âm địa phương là "Quảng Nôm", là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam. Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Suốt chiều dài lịch sử, Quảng Nam còn nhiều lần thay đổi tên gọi: năm 1490 (Hồng Đức) - Quảng Nam xứ, năm 1520 (Hậu Lê) - trấn Quảng Nam, năm 1602 (thời Nguyễn Hoàng) - dinh Quảng Nam, thời Minh Mạng, năm 1827 đổi thành trấn Quảng Nam, năm 1832 đổi thành tỉnh Quảng Nam, gồm 2 phủ : Thăng Hoa, Điện Bàn, với năm huyện: Diên Phước, Duy Xuyên, Hoà Vinh, Lễ Dương, Hà Đông). Về sau có một vài lần sáp nhập, thay đổi tên gọi để đến ngày 06 tháng 11 năm 1996, Quốc hội nước CHXHCNVN khoá IX, kỳ họp thứ 10 đã phê chuẩn việc tách tỉnh QN-ĐN thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà . Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn 1.2 ĐIỆN BÀN Vùng đất Điện Bàn xưa thuộc đất Việt Thường Thị của vua Hùng. Từ năm 214 đến năm 205 TCN, thời nhà Tần, thuộc Tượng Quận. Từ năm 206 TCN đến năm 192 SCN, thời nhà Hán, thuộc quận Tượng Lâm và từ năm 192 đến năm 1306 thuộc vương quốc Chăm Pa. Năm 1435, địa danh Điện Bàn được Nguyễn Trãi ghi vào "Dư địa chí" gồm 95 xã thuộc phủ Triệu Phong của lộ Thuận Hóa. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1520, vua Lê Chiêu Tông đổi thành trấn Quảng Nam. Điện Bàn bấy giờ là một huyện thuộc phủ Triệu Phong của trấn Thuận Hóa. Năm 1602, Nguyễn Hoàng đổi thành dinh Quảng Nam và năm 1604 tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, thăng lên thành phủ và nhập về Quảng Nam. Dinh trấn Quảng Nam đóng tại xã Thanh Chiêm, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, do các công tử của Chúa Nguyễn lần lượt đến trấn thủ. Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam gồm 2 phủ: Thăng Hoa và Điện Bàn. Phủ Điện Bàn gồm 2 huyện: Diên Phước và Hòa Vang. Năm 1806, dinh Quảng Nam đổi thành trực lệ Quảng Nam dinh thuộc Kinh Sư. Năm 1827, vua Minh Mạng cho đổi thành trấn Quảng Nam. Năm 1832, đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam. Năm 1833, tỉnh đường Quảng Nam được xây dựng tại làng La Qua. Năm 1899, Điện Bàn có thêm huyện Đại Lộc. Sang đầu thế kỷ XX, khi huyện, phủ thành những đơn vị hành chính riêng thì huyện Điện Bàn hôm nay chính là phần đất của huyện Diên Phước trước đây.Sau năm 1975, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, gồm 15 xã: Điện An, Điện Dương, Điện Hòa, Điện Hồng, Điện Minh, Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Phong, Điện Phước, Điện Phương, Điện Quang, Điện Thắng, Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Trung. Ngày 23 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 79-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới một số xã và thị trấn thuộc các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Điện Bàn, Giằng, Trà My, Tiên Phước, Phước Sơn và Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng; theo đó, chia xã Điện Minh thành thị trấn Vĩnh Điện và xã Điện Minh[1]. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, huyện Điện Bàn thuộc tỉnh Quảng Nam vừa được tái lập[2]. Ngày 11 tháng 3 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết định số 889/NQ-UBTVQH13 chuyển huyện Điện Bàn thành thị xã Điện Bàn, đồng thời chuyển thị trấn Vĩnh Điện và 6 xã: Điện An, Điện Ngọc, Điện Nam Bắc, Điện Nam Trung, Điện Nam Đông, Điện Dương thành 7 phường có tên tương ứng.[4] Sau khi lên thị xã, Điện Bàn có diện tích tự nhiên là 21.471ha, dân số gần 230 nghìn người, gồm 20 đơn vị hành chính trong . Điện Bàn có 7 phường: Điện An, Điện Dương, Điện Nam Bắc, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, Điện Ngọc, Vĩnh Điện và 13 xã gồm: Điện Hòa, Điện Hồng, Điện Minh, Điện Phong, Điện Phước, Điện Phương, Điện Quang, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Nam, Điện Thắng Trung, Điện Thọ, Điện Tiến, Điện Trung Sau năm 1975 Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và Thành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị. Sau khi thành lập tỉnh, có những thay đổi hành chính như sau: chuyển thị xã Đà Nẵng thành thành phố Đà Nẵng, hợp nhất thị xã Tam Kỳ và 2 huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ thành huyện Tam Kỳ. Dân số và nguồn nhân lực 2.1. Dân số: Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 601.672 người. Toàn tỉnh có 136.743 hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ. Dân số thành thị có 170.073 người, chiếm 28,31%. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,05% năm 2007 và 1,12% năm 2010; dân số cơ học tăng không đáng kể. Bình quân mỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5.000-6.000 người. Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,3%, nam chiếm 49,7%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơ cấu dân số trẻ, riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%, đây là lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh. Mật độ dân số toàn tỉnh là 126,7 người/km2,thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước. Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ, tập trung đông ở các thành phố, thị xã, các huyện đồng bằng như thị xã Quảng Trị: 308 người/km2, thị xã Đông Hà: 1.157 người/km2, trong khi đó huyện Đakrông chỉ có 29 người/km2, Hướng Hoá 64 người/km2. Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, điện, nước, thủy lợi, trường học, trạm y tế... phục vụ sản xuất và dân sinh ở những vùng có địa hình núi cao, chia cắt, thưa dân. Nguồn nhân lực: Năm 2010 toàn tỉnh có 346.287 nghìn người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 57,5% dân số, số người trong độ tuổi lao động tăng thêm bình quân mỗi năm khoảng 3.000 - 4.000 người. Đội ngũ lao động được đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật của tỉnh còn hạn chế. Số người đạt trình độ từ sơ cấp, có chứng chỉ nghề trở lên chiếm 26% (trong đó cao đẳng, đại học trở lên chiếm 4,4%; trung học chuyên nghiệp 5,9%; công nhân kỹ thuật có bằng 1,5%, công nhân kỹ thuật không bằng 8,3%, sơ cấp/chứng chỉ nghề 2,9%). Còn lại phần lớn là lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 74%. Phần lớn lao động trên địa bàn tỉnh làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp (năm 2010 chiếm tỷ lệ 55%);lao động trong các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có xu hướng chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu lao động xã hội. Đơn vị hành chính thuộc Điện Bàn - Quảng Nam STT Thể loại hành chính Tên gọi Thủ phủ Diện tích ( km²) Dân số (người) Mật dộ dân số (người/ km²) Đơn vị hành chính cấp xã - phường - thị trấn 1 Thành phố Tam Kỳ 92,6 107.900 1.165 9 phường: An Mỹ, An Sơn, Hòa Hương, Phước Hòa, An Xuân, An Phú, Trường Xuân, Tân Thạnh, Hòa Thuận 4 xã: Tam Thăng, Tam Thanh, Tam Phú, Tam Ngọc 2 Thành phố Hội An 61,5 89.700 1.459 9 phường: Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Cửa Đại, Minh An, Sơn Phong, Tân An, Thanh Hà 4 xã: Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Tân Hiệp (xã đảo nằm trên Cù lao Chàm) 3 Thị xã Điện Bàn 214,7 229.907 1.071 7 phường: Điện Dương, Điện Nam Đông, Điện Nam Trung, Điện Nam Bắc, Điện Ngọc, Điện An, Vĩnh Điện 13 xã: Điện Hòa, Điện Thắng Bắc, Điện Thắng Trung, Điện Thắng Nam, Điện Phước, Điện Thọ, Điện Hồng, Điện Tiến, Điện Minh, Điện Phương, Điện Trung, Điện Quang và Điện Phong, 4 Huyện Nam Trà My Trà Mai 825,5 25.500 31 10 xã: Trà Don, Trà Leng, Trà Vân, Trà Vinh, Trà Tập, Trà Dơn, Trà Nam, Trà Cang, Trà Mai, Trà Linh 5 Huyện Bắc Trà My Trà My 825,5 38.200 46 1 Thị trấn: Trà My 12 xã: Trà Đông, Trà Dương, Trà Kót, Trà Nú, Trà Giang, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Đốc, Trà Bui, Trà Giác, Trà Giáp, Trà Ka 6 Huyện Tây Giang A Tiêng 903 16.500 18 10 xã: Ch'ơm, A Xan, Tr'hy, Lăng, A Tiêng, Bhallê, G'ry, A Nông, Dang, A Vương 7 Huyện Nam Giang Thạnh Mỹ 1.842,9 22.400 12 1 Thị trấn: Thạnh Mỹ 11 xã: Cà Dy, Tà Bhing, Tà Pơơ, Đắk Pring, Đăk Pree, La Dêê, Chơ Chun, La Êê, Đắk Tôi, Chà Vàl và Zuôih 8 Huyện Đông Giang P Rao 812,6 23.400 29 1 Thị trấn: P Rao 10 xã: Ba, Tư, A Ting, Sông Kôn, Jơ Ngây, Tà Lu, Za Hung, A Rooi, Mà Cooih, Ka Dăng 9 Huyện Thăng Bình Hà Lam 385,6 176.200 457 1 Thị trấn: Hà Lam 21 xã (Bình An, Bình Chánh, Bình Dương, Bình Giang, Bình Phục, Bình Triều, Bình Quý, Bình Đào, Bình Định Nam, Bình Định Bắc, Bình Minh, Bình Nguyên, Bình Nam, Bình Phú, Bình Lãnh, Bình Trị, Bình Sa, Bình Hải, Bình Tú, Bình Trung, Bình Quế 10 Huyện Phú Ninh Phú Thịnh 251,2 77.100 307 1 Thị trấn: Phú Thịnh 10 xã: Tam Dân, Tam Lãnh, Tam Thái, Tam Đàn, Tam An, Tam Lộc, Tam Vinh, Tam Thành, Tam Phước và Tam Đại 11 Huyện Đại Lộc Ái Nghĩa 587,1 146.000 249 1 Thị trấn: Ái Nghĩa 17 xã: Đại Đồng, Đại Hiệp, Đại Nghĩa, Đại An, Đại Quang, Đại Lãnh, Đại Hưng, Đại Minh, Đại Cường, Đại Thạnh, Đại Thắng, Đại Phong, Đại Hồng, Đại Hòa, Đại Chánh, Đại Tân và Đại Sơn 12 Huyện Duy Xuyên Nam Phước 299,1 120.900 404 13 Huyện Núi Thành Núi Thành 534,0 137.500 257 14 Huyện Quế Sơn Đông Phú 250,8 82.200 328 15 Huyện Phước Sơn Khâm Đức 1.141,3 22.600 20 16 Huyện Hiệp Đức Tân An 494,2 38.000 77 17 Huyện Tiên Phước Tiên Kỳ 454,4 68.900 152 15 xã, thị trấn: Thị trấn Tiên Kỳ, 14 xã: Tiên Lãnh, Tiên Ngọc, Tiên Hiệp, Tiên Cảnh, Tiên An, Tiên Lộc, Tiên Lập, Tiên Châu, Tiên Thọ, Tiên Sơn, Tiên Cẩm, Tiên Hà, Tiên Mỹ, Tiên Phong. 18 Huyện Nông Sơn Nông Sơn 455,9 31.500 69 ]Làng nghề truyền thống Làng gốm Thanh Hà (Ngoại ô Hội An) Làng mộc Kim Bồng Làng đúc đồng Phước Kiều (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn) .Tháp Bằng An Làng gốm Thanh Hà Làng đúc đồng Phước Kiều Khu du lịch sinh thái Triêm Tây HÀ LÊ QUỲNH THƯ - LỚP 6/3 ~LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG~
Tài liệu đính kèm: