Đề thi tuyển sinh vào Lớp 10 THPT môn Ngữ văn - Đề 2 - Năm học 2017-2018 - Phòng GD & ĐT Na Hang (Có đáp án)

doc 5 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 26/02/2026 Lượt xem 5Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi tuyển sinh vào Lớp 10 THPT môn Ngữ văn - Đề 2 - Năm học 2017-2018 - Phòng GD & ĐT Na Hang (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề thi tuyển sinh vào Lớp 10 THPT môn Ngữ văn - Đề 2 - Năm học 2017-2018 - Phòng GD & ĐT Na Hang (Có đáp án)
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NA HANG
ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2017 – 2018
Môn thi: Ngữ văn
Thời gian: 120 phút (Không kể thời gian giao nhận đề)
Đề này có 01 trang 
I. Mục đích kiểm tra:
Kiểm tra mức độ Chuẩn KTKN trong chương trình Ngữ văn lớp 9 THCS.
Kiến thức:
- Biết xác định tên tác giả, tác phẩm và nội dung của khổ thơ.
- Hiểu được biện pháp nghệ thuật đã được sử dụng và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó trong đoạn thơ. 
- Viết được đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân và bài văn nghị luận văn học. 
2. Kỹ năng:
Đọc hiểu, viết đoạn văn, bài văn nghị luận văn học. 
Thái độ: 
- HS có ý thức làm bài nghiêm túc.
- Định hướng năng lực cho HS: Tự quản, giải quyết vấn đề, sáng tạo.
II. Hình thức kiểm tra:
Hình thức: Tự luận.
III. Thiết lập ma trận đề kiểm tra: 
 Mức độ
Chủ đề
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Tổng
Cấp độ thấp
Cấp độ cao
I. Đọc hiểu
- Biết được tác phẩm, tác giả trong khổ thơ. 
- Hiểu được nội dung, biện pháp nghệ thuật tu từ và tác dụng của các biện pháp đó trong khổ thơ. 
- Viết một đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân theo yêu cầu
Số câu:
Số điểm:
Tỉ lệ %:
1
0,5
5%
1
1,5
15%
1
2
20%
3
4
40%
II. Làm văn
Vận dụng các thao tác nghị luận, khả năng cảm thụ văn học để viết bài.
Số câu:
Số điểm:
Tỉ lệ %:
1
6
60%
1
6
60%
Tổng số câu:
T. số điểm:
Tỉ lệ %:
1
0,5
5%
1
1,5
15%
1
2
20%
1
6
60%
4
10
100%
IV. Biên soạn câu hỏi theo ma trận
Phần I: Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các câu hỏi bên dưới: 
“Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
 Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
 (Trích ngữ văn 9 - Tập 1)
Câu 1: Khổ thơ trên trích trong tác phẩm nào ? Nêu tên tác giả của bài thơ ấy ? (0,5 điểm) 
Câu 2: Nêu nội dung chính của khổ thơ trên ? (0,5 điểm) 
Câu 3: Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật và nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật trong khổ thơ trên? (1điểm) 
Câu 4: Từ đoạn thơ trên hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 150 - 200 từ) trình bày suy nghĩ của em về tinh thần vượt khó của lớp trẻ hiện nay. (2 điểm) 
Phần II: Làm văn (6 điểm)
Cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong đoạn trích “Làng” của Kim Lân.
-- Hết ---
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NA HANG
ĐÁP ÁN ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2017 - 2018
Môn thi: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 120 phút 
(Đáp án này có 02 trang)
Phần I: Đọc hiểu (4 điểm):
Câu 1. Khổ thơ trên trích trong tác phẩm : Bài thơ về tiểu đội xe không kính, của tác giả Phạm Tiến Duật. (0,5 điểm) 
Câu 2. Nội dung chính của khổ thơ trên: (0,5 điểm) 
- Hình ảnh những chiếc xe bị bom đạn Mĩ làm cho biến dạng, trụi trần.
- Ý chí chiến đấu để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ cứu nước.
Câu 3. Những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ, tác dụng:
(1 điểm) 
- Phép điệp ngữ: “không có” -> góp phần tính chất hư hại của những chiếc xe. Từ đó làm nổi bật sự ác liệt của chiến tranh cũng như hiện thực về cuộc sống của người lính(0,5 điểm).
- Hoán dụ: “trái tim” -> góp phần nhấn mạnh, làm nổi bật sức mạnh chiến đấu, ý chí kiên cường  của người lính lái xe. (0,5 điểm).
Câu 4. Viết đoạn văn ngắn khoảng 150 - 200 từ (2 điểm).
1. Yêu cầu về kỹ năng:
- Học sinh vận dụng các thao tác nghị luận, khả năng cảm thụ văn học để trình bày suy nghĩ của mình về nội dung của tác phẩm.
- Đoạn văn có bố cục 3 phần chặt chẽ, lý lẽ dẫn chứng cụ thể, diễn đạt lưu loát, dùng từ đặt câu đúng, chữ viết rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, khuyến khích những bài viết sáng tạo.
2. Yêu cầu về kiến thức:
- Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo những nội dung sau:
-  Tinh thần vượt khó là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Giới trẻ ngày nay tiếp thu truyền thống quý báu của ông cha và không ngừng làm vẻ vang truyền thống đó. (0,5 điểm) 
-  Vượt lên gian khó, thế hệ trẻ đã biến những ước mơ trở thành hiện thực và gặt hái được rất nhiều thành công: ( 0,5 điểm) 
+ Nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó, là thủ khoa trong các kì thi đại học, đạt giải cao trong các kì thi trong nước và quốc tế.
+ Những bạn trẻ kém may mắn, sinh ra đã bị khiếm khuyết cũng nỗ lực hết mình để vươn lên, đạt được những thành quả đáng tự hào.
-  Phê phán những con người không biết quý trọng những gì tốt đẹp mình đang có, lãng phí thời gian, tuổi trẻ; đòng thời phê phán những con người không có ý chí vươn lên, chịu đầu hàng trước những khó khăn, thử thách (0,5 điểm) 
-  Liên hệ bản thân: Đó là những tấm gương sáng về tinh thần vượt khó để chúng ta học tập và noi theo và rút ra bài học.(0,5 điểm) 
Phần II: Làm văn (6 điểm)
1. Yêu cầu về kỹ năng:
- Học sinh vận dụng các thao tác nghị luận, khả năng cảm thụ văn học để trình bày suy nghĩ của mình về nội dung của tác phẩm.
- Bài viết có bố cục 3 phần chặt chẽ, lý lẽ dẫn chứng cụ thể, diễn đạt lưu loát, dùng từ đặt câu đúng, chữ viết rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, khuyến khích những bài viết sáng tạo.
2. Yêu cầu về kiến thức:
- Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo những nội dung sau:
Nội dung cần đạt
Biểu điểm
 a. Mở bài 
- Giới thiệu chung về tác giả, khái quát về tác phẩm.
- Nêu cảm nhận chung về nhân vật ông Hai: Là người nông dân có tình yêu làng gắn liền với tình yêu nước.
b. Thân bài
 * Ông Hai là người nông dân yêu làng quê bằng tình yêu đặc biệt:
 - Kháng chiến bùng nổ:
 + Tự hào về làng kháng chiến: Tập quân sự đắp ụ chiến đấu...
 + Tình nguyện ở lại làng cùng bộ đội du kích chiến đấu.
 - Khi đi tản cư xa làng: sống trong tâm trạng nhớ nhung buồn bực, tối nào cũng sang bác Thứ nói chuyện về làng cho khuây nỗi nhớ; hỏi thăm tin tức của làng; đọc báo để theo dõi tin tức kháng chiến...
 ->Tình yêu làng trước và sau cách mạng có sự phát triển, thể hiện sự phát triển về nhận thức chính trị của ông Hai nói riêng và của người nông dân nói chung.
 * Tình yêu làng gắn bó với tình yêu nước:
 - Nỗi đau xót, tủi hổ của ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây làm Việt gian.
+ Khi mới nghe tin: Sững sờ (cổ họng nghẹn ắng ... da mặt tê rân rân...)
 + Trên đường về - khi về đến nhà: Cái tin đó đã trở thành nỗi ám ảnh day dứt khiến ông đau xót, tủi hổ đến mức tuyệt vọng (cúi gằm mặt xuống, nằm vật ra giường ... tủi thân nước mắt cứ giàn ra...)
 + Những ngày sau đó: Không dám đi đâu, dứt khoát lựa chọn theo suy nghĩ của mình: Yêu làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù. (Phân tích đoạn trò chuyện với đứa con - là đỉnh điểm của tình yêu làng, yêu nước).
 - Vui sướng hả hê khi nghe tin làng chợ Dầu vẫn là làng kháng chiến:
 + Nghe tin cải chính - vui sướng hả hê: (“... tươi vui, rạng rỡ ... cặp mắt... hấp háy ... chia quà cho con”
 + Hả hê, sung sướng khoe nhà bị Tây đốt.
 * Khái quát giá trị nghệ thuật:
 - Xây dựng hình tượng ông Hai tạo ấn tượng sâu sắc.
 - Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Tạo tình huống, chi tiết chân thực,nghệ thuật miêu tả tâm lý tính tế.
 - Hình tượng ông Hai là hình ảnh người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Yêu làng, yêu nước.
 c. Kết bài
 - Yêu làng gắn bó với tình yêu nước là tình cảm cao đẹp, một phẩm chất cao quý của ông Hai. Tình cảm của ông Hai là tình cảm chung của những người nông dân trong công cuộc chống ngoại xâm, một nét mới trong đời sống tinh thân của họ những con người bình dị, đáng quý, đáng trọng. Qua đó ta hiểu được tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong kháng chiến chống Pháp.
- Liên hệ bản thân. 
0,25
0,25
0,5
0,5
0,5
0,5
0,5
0,5
 0,5
0,5
1,0
0,25
0,25

Tài liệu đính kèm:

  • docde_thi_tuyen_sinh_vao_lop_10_thpt_mon_ngu_van_de_2_nam_hoc_2.doc