Sở GD& ĐT Vĩnh Phúc Đề thi CHọN học sinh giỏi lớp 9 Đề dự bị Năm hoc 2008-2009 Môn thi : Ngữ văn Thời gian làm bài:150 phút (Không kể thời gian giao đề) ----------------------------------- Câu 1:(3 điểm) Cho đoạn văn: “Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông, và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau, xen với màu xanh non – những sắc màu thân thuộc quá như da thịt hơi thở của đất màu mỡ. Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến- cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình.” ( Nguyễn Minh Châu - Trích‘‘Bến quê” - Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, H. 2006) Cảm nhận của em khi đọc phần trích trên. Câu2:(7điểm) Trong bài Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi viết: “ Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng. Nghệ sĩ giới thiệu với chúng ta một cảm giác, tình tự, một tư tưởng bằng cách làm sống hiển hiện ngay trong tâm hồn chúng ta cảm giác, tình tự, tư tưởng ấy.” ( Dẫn theo Ngữ văn 9, tập 2- NXB Giáo dục, H. 2006) Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Dựa vào một số tác phẩm văn học đặc sắc trong chương trình THCS đã học và đọc thêm, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. . Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ và tên học sinh. Số báo danh.. Sở GD& ĐT hướng dẫn chấm thi CHọN học sinh giỏi lớp 9 Vĩnh Phúc Năm hoc 2007-2008 Đề dự bị Môn thi : Ngữ văn Câu1:(3điểm) I. Yêu cầu: HS có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những phát hiện và cảm thụ riêng nhưng cần làm rõ một số ý cơ bản sau: Đoạn văn là minh chứng cho sự tìm tòi sáng tạo đổi mới văn chuơng từ sau 1980. Ngòi bút của ông từ cảm hứng sử thi lãng mạn đã hướng vào đời sống thế sự nhân sinh với những sinh hoạt đời thường dể phát hiện những gì sâu sắc của cuộc sống với bao nhiêu quy luật nhà văn cảm nhận, 1.Nội dung: Qua cái nhìn và dòng hồi tưởng của nhân vật Nhĩ, đoạn văn mô tả vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên buổi sáng đầu thu được nhìn từ khung cửa sổ nhà Nhĩ “ hàng cây bằng lăngcon sông một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sôngphô ra một màu vàng thau xen lẫn với màu xanh non .” 2.Về nghệ thuật: Tác giả sử dụng những câu văn trữ tình kết hợp với tự sự, cảnh vật được nhìn theo tầm nhìn của Nhĩ : Từ khung cửa sổ nhà đến bờ bãi bên kia sông tạo cho không gian có chiều sâu rộng. Cảm xúc tinh tế và nhạy bén khiến cho bức tranh thiên nhiên vừa quen thuộc, gần gũi, vừa mới mẻ như nhìn thấy lần đầu. Nguyễn Minh Châu còn xây dựng tình huống truyện trớ trêu, nghịch lý: Nhĩ đã “từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất mà giờ đây bệnh tật khiến cho cái bờ bên kia sông ngay trứoc cửa nhà mình”, “lại là một chân trời gần gũi và xa lắc vì chưa hề đi đến bao giờ”. Từ đó mở ra những suy ngẫm, thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống. Những giá trị mà người đời hay lãng quên hoặc vô tình. Cuộc đời ai có thể biết hết những vòng vo gấp khúc, từ đó hãy biết sống khoan dung, độ lượng. II. Thang điểm: Cho 3 điểm: Đáp ứng đầy đủ yêu cầu nêu trên, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trong sáng . Cho 2 điểm : Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, hoặc hiểu ý mà diễn đạt chưa thật lưu loát. Cho 1 điểm : Đáp ứng được khoảng 1/2 yêu cầu cuả đề, hoặc hiểu ý mà diễn đạt chưa thật lưu loát. Câu2:(7điểm) I. Về kỹ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận có kết cấu chặt chẽ, bố cục rõ ràng, diễn đạt tốt, không mắc các lỗi về chính tả, dùng từ, ngữ pháp. Văn viết có cảm xúc. Dẫn chứng tiêu biểu. II. Về kiến thức: Học sinh hiểu đúng nhận định của Nguyễn Đình Thi về mối quan hệ giữa tác phẩm và nhà văn, giữa độc giả và tác phẩm văn học. +ý 1: “Tác phẩmtrong lòng”. Tác phẩm văn học nói riêng và tác phẩm nghệ thuật nói chung đều là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, là kết quả của quá trình cảm xúc, suy tư, trăn trở và đánh giá cuộc sống thông qua thế giới quan của riêng tác giả. Thế giới hiện thực trong tác phẩm chính là những cảm xúc nồng nàn, những ý nghĩa nhân sinh lớn lao, những ý tưởng mới mẻ và cả những giá trị thẩm mĩ sâu sắc mà bản thân người nghệ sĩ phát hiện. Tác phẩm văn học là sợi dây truyền, là cầu nối giữa nhà văn và cuộc sống hiện thực. Người đọc cùng với người nghệ sĩ tìm hiểu và đánh giá những vấn đề đặt ra trong cuộc sống theo cảm quan của người viết. Tác phẩm văn học có tác động rất lớn đến tình cảm, nhận thức và nhân cách của độc giả theo nhiều hướng. Giá trị của tác phẩm văn học phụ thuộc vào chất lượng của các sáng tác và thế giới quan của người nghệ sĩ. ý 2: “ Nghệ sĩ giới thiệu.tư tưởng ấy.” Tiếp nhận văn học diễn ra theo một quá trình. Nghệ sĩ phản ánh hiện thực đời sống qua những cảm xúc chân thành, tinh tế, qua thái độ chủ quan . Người nghệ sĩ ngôn từ chọn lọc và sử dụng hiệu quả ngôn ngữ, kết hợp với tài năng, tâm huyết để làm “ hiển hiện trong lòng người đọc những cảm xúc, tình tự, tư tưởng.” Nhà văn lớn có những tình cảm lớn, có cái nhìn sâu rộng, phù hợp với thời đại, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhiều người. Vì thế, tác phẩm của họ khơi dậy những cảm xúc, tình tự, tư tưởng tốt đẹp. Những giá trị của tác phẩm sẽ sống mãi trong niềm tự hào và yêu mến của người đọc. Người nghệ sĩ vĩ đại, qua tác phẩm của mình, truyền cho các thế hệ độc giả tình yêu cuộc sống, con người, tình yêu cái đẹp và thái độ, suy nghĩ, hành động đúng, tiếp thêm sức mạnh cho họ trên con đường còn nhiều khó khăn để kiếm tìm hạnh phúc. Học sinh có thể chọn lọc một số dẫn chứng trong các tác phẩm đặc sắc trong chương trình THCS : như Truyện Kiều- Nguyễn Du, một số bài thơ Mới, Thơ Hồ Chí Minh, một số tác phẩm văn xuôi thế kỉ XX làm sáng tỏ các vấn đề trên. III.Thang điểm: - Điểm 7: Đạt được các yêu cầu, văn trong sáng, cảm xúc. - Điểm 6 : Đạt các yêu cầu, diễn đạt rõ ý, dẫn chứng chưa tiêu biểu. - Điểm 5 : Đạt các yêu cầu, diễn đạt chưa hay và còn một vài lỗi nhỏ. - Điểm 3- 4 : Tỏ ra hiểu vấn đề, nội dung chưa sâu hoặc còn mắc một số lỗi diễn đạt. - Điểm 2-1 : Chưa hiểu đề bài hoặc trình bày lúng túng, còn mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, viết câu. - Điỉem 0 : sai lạc cả nội dung và phương pháp. *Lưu ý: Trên đây là một số gợi ý về thang mức điểm . Các giám khảo cần cân nhắc tưng trường hợp cụ thể. Cân hết sức chú ý việc hiểu đề, khả năng cảm thụ và diễn đạt của HS , không đếm ý cho điểm . Điểm cho lẻ đến 0,5, sau khi cộng điểm toàn bài. ----Hết----
Tài liệu đính kèm: