Đề ôn tập học kỳ 2 môn Ngữ văn 8

doc 15 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 21/02/2026 Lượt xem 5Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề ôn tập học kỳ 2 môn Ngữ văn 8", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề ôn tập học kỳ 2 môn Ngữ văn 8
Đề 1.mối quan hệ giữa học và hành
Mở bài: Để cho xã hội phát triển toàn diện con người cần phải có tri thức và việc học tập là vô cùng quan trong. Nhưng để việc học có hiệu quả thì tư tuổng mới của Nguyễn Thiếp đã thể hiện rõ trong bài" Bàn luận về phép học": Cứ theo điều học mà làm: nghĩa là học phải kết hợp với hành. Và để kế tục những tư tưởng đó, T5.1950, Bác hồ đã nói: Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Từ đó, ta thấy được tầm quan trọng giữa việc học và hành.
 II. Thân bài: 
1. Thế nào là học:
 - Học là tiếp thu kiến thức được tích lũy trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong cá bộ môn khoa học, đồng thời tiếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước. Học là trau dồi kiến thức, mở mang trí tuệ. Tóm lại học là sự thu nhận kiến thức từ người khác, rèn luyện thành kĩ năng nhận thức tri thức. 
- Không có học là không có kiến thức về KH-XH, con người- đời sống. Cho nên, "Người không học như ngọc không mài". 
2. Thế nào là hành:
 - Hành nghĩa là làm, là thực hành các ứng dụng, kiến thức vào thực tiễn đời sống. Ta lấy những điều đã học để làm.
 - Hoc với hành phải đi đôi, không thể tách rời mà phải gắn liền. 
- Học và hành là một quá trình thống nhất. Nó phải được đúc kết và nâng cao trong thực tiễn đời sống. Hoc thì dễ, nhưng học kết hợp với hành là vô cùng khó khăn, đòi hỏi học sinh chúng ta phải tự có ý thức rèn luyện.
 3. Tại sao học phải kết hợp với hành:
 - Trong thực tế học tập, hành chính là mục đích và phương pháp học tập bởi vì kiến thức học được phải được áp dụng trong cuộc sống. 
- Khi người học đã có kiến thức, lý thuyết mà không vận dụng vào thực tiễn, không thực hành thì học vô ích, việc học chẳng để làm gì. Vì người` đi học phải trải qua một quá trình lâu dài, phải đầu tư vào thời gian, sức lực, tiền của. Nếu những điều đã được học mà không thực hành, áp dụng vào trong thực tiễn sẽ trở nên lãng phí.
-Nếu học mà không hành: + việc học không thấu đáo, không đầy đủ, học một đằng thực hành một nẻo; hoặc người đi học không có môi trường để hoạt động. Kiến thức chưa được trang bị dầy đủ, việc thực hành thiếu tự tin, không làm được việc gì, bị chê cười => ngại ra với thực tiễn, XH.
- Người đi học muốn thực hành mà không có lý thuyết, lí luận chỉ đạo và thiếu kinh nghiệm thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ không tránh khỏi sự vấp váp, lúng 
túng, gặp khó khăn trở ngại, thậm chí dẫn đến sai lầm. VÌ vậy, đúng như Chủ tịch hồ chí minh đã nói: "hành mà không học thì hành không trôi chảy". Hay lê-nin có câu: Ngu dốt cộng nhiệt tình = kẻ phá hoại”.
 - Trong thực tế cuộc sống đã không có ít trường hợp vô tình trở thành kẻ phá hoại chỉ vì người đó hành mà không học. - Dẫn chứng : .
- Vì vậy việc học để có tri thức, tích lũy tri thức là vô cùng quan tọng vì nó là yếu tố quyết định cho việc hành. 
4. Học ntn cho có hiệu quả? 
- Khi sinh ra ta bắt đầu tiếp xúc với môi trường xq, con người ta đã bắt đầu học :Học ăn, học nói, học gói, học mở. 
- Đến tuổi đến trường thì được học kiến thức trong nhà trường (TNXH, cuộc sống...)
 - Đến khi trưởng thành, rời ghế nhà trường, bước vào thực tế cuộc sống vẫn tiếp tục fải học những người xung quanh: Hoc, học nữa, học mãi (Lenin)
 - Đối với hs đi học, ngoài những kiến thức mà thầy cô cung cấp trong nhà trường phải cố gắng trau dồi kĩ năng học tập, phải biết tự học có phương pháp, học tập phải toàn diện và có mục đích rõ ràng.
 - Phạm vi học tập là rất rộng lớn, học Phổ thông - đại học.... rồi lên cao nữa, nhưng không bao giờ được coi mình là người đã có đầy đủ tri thức. Một người tri thức chân chính luôn tự coi mình còn kém cỏi, luôn muốn học thêm nữa
- XH ngày càng tiến bộ, con người càng có nhiều đ/kiện học tập để làm chủ vũ trụ, làm chủ thiên nhiên và cuộc sống của mình. " Việc học tập là quyển vở không trang cuối cùng". Việc học của chúgn ta cần phải tiến sát với tiến bộ của nhân loại.
 - Học phải kết hợp với hành. Học một làm mười cho thành thạo. Trong quá trình học phải biết sáng tạo để thực hành, không chỉ biết làm theo các khuôn mẫu cứng nhắc và phức tạp để việc hành được dễ dàng (cái này là mình viết nha/ chẳng biết thế nào?)
 III. Kết bài; Những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Thiếp về việc kết hợp học với hành đã trở thành một nguyên lí, phương châm giáo dục và đó cũng là một phương pháp học tập của chúng ta. - Nhớ người xưa, vâng lời bác Hồ dạy, người học sinh phải biết học kết hợp với hành để đủ trình độ nhận thức, đóng góp cho XH, kế tục sự nghiệp của các bậc đàn anh. 
**************************************************
Đề 2
Dựa vào các văn bản “ Chiếu dời đô ” và “ Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn.
I.Mở bài: Lịch sử đất nước gắn liền vói tên tuổi những người anh hùng dân tộc vĩ đại._ Hai áng văn “ Chiếu dời đô “ (Lý Công Uẩn) và “ Hịch tướng sĩ” ( Trần Quốc Tuấn ) sáng ngời nhân cách, hành động vì dân, vì nước và vai trò lãnh đạo anh minh của hai ông đối với vận mệnh đất nước
II.Thân bài:
 1) “ Chiếu dời đô “ sự bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình) ra thành Đại La ( Hà Nội ngày nay) khi Lý Công Uẩn mới được tôn lên làm hoàng đế => Một triều đại hưng thịnh ghi dấu ấn những chiến công và những thành tựu quan trọng về văn hóa phật giáo cho dân tộc.-triều nhà LÝ
_ Kinh đô là trung tâm về văn hóa, chính trị của một đất nước . Nhìn vào kinh đô là nhìn vào sự thịnh suy của một dân tộc. Kinh đô có ý nghĩa rất lớn. Việc lập đô là một vấn đề trọng đại quyết định phần nào đến tương lai đất nước.
_ Nói tới việc dời đô => Lý Công Uẩn có một quyết tâm lớn, có tầm nhìn xa đén tương lai._ Chiếu dời đô không phải là hành động , ý chí của một người. Nó còn thể hiện xu thế tất yếu của lịch sử. Lý Công Uẩn hiểu thấu khát vọng của nhân dân, khát vọng của lịch sử. 
- Dời đô về Thăng Long là một bước ngoặc lớn , đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc Đại Việt.
- Tìm nơi “ Trung tâm trời đất “ , nơi có địa thế thuận lợi để lập đô._ Lý Công Uẩn đã nhìn thấy những thuận lợi ấy của Đại La. Thể hiện được tầm nhìn chiến lược của Lý Công Uẩn, một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, chính xác về các mặt: vị trí địa lý, địa thế, nhân văn của thành Đại La .Ông quan tâm tói nhân dân, tìm chốn lập đô cũng vì dân, mong cho dân hạnh phúc, đất nước vững bền
_Để bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng Đại Việt thành một quốc gia vững mạnh => Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường => Một ngàn năm sau , Thăng Long trở thành Hà Nội, thủ đô hòa bình, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc vọng của nhân dân ta.
2) Hịch tướng sĩ
 _ Tên tuổi của Trần Quốc Tuấn gắn liền với các chiến công là nhờ sự quan tâm đến vận mệnh đất nước bằng trái tim, ý chí của một bậc anh hùng.
_ Ông đau nỗi đau của dân tộc, nhục nỗi nhục của quốc thể từ đó bộc lộ lòng căm thù sâu sắc, lòng yêu nước nồng nàn
._ Ông khuyên răn, trách cứ tướng sĩ về việc học tập binh thư.
Vạch ra những điều cần thiết tướng sĩ phải làm là chỉ có một con đường, một hành động => học tập rèn luyện để làm rạng danh đất nước, tổ tông.
_ Như vậy, bằng cái nhìn sáng suốt và cảnh giác Trần Quốc Tuấn đã vạch trần dã tâm và bộ mặt tham lam, tàn bạo của quân xâm lược phương Bắc qua hình ảnh bọn ngụy sứ. Từ đó ông viết “ Hịch tướng sĩ “ để kêu gọi tướng sĩ một lòng, chuẩn bị đương đầu trong 
cuộc chiến sống còn với quân Nguyên. Vì sự sống còn và niềm vinh quang của tổ quốc mà quyết tâm thắng giặc
._ Với vai trò lãnh đạo anh minh và tấm lòng nhiệt huyết của mình, Trần Quốc Tuấn đã truyền đến ba quân khí thế, tinh thần quyết chiến, quyết thắng biến thành sức mạnh “ Sát Thát ” đưa đén những thắng lợi, chiến công giòn giã.
III>Kết bài:
_ Nhờ có những người lãnh đạo anh minh như Lý Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn mà vận mệnh đất nước ta mới được tươi sáng, phát triển và con cháu về sau mới được thừa hưởng những kết quả tốt đẹp mà tổ tiên để lại.
_ Suy nghĩ về vai trò của người lãnh đạo
********************************************************************************************************
. Đề 3: Từ bài bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ về mối quan hệ giữa “học” và “hành”
.
I Mở bài: _Giới thiệu tác phẩm bàn “luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp._ Giới thiệu vấn đề nghị luận: Mối quan hệ giữa “học” và “hành”.Vd: “ Bàn luận về phép học” là một đoạn văn trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung 8/ 1791. Bài tấu này thể hiện cái tâm của Nguyễn Thiếp đối với việc trấn hưng nền quốc học, nền giáo dục nước nhà. Nhằm mở mang dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước. Mà một trong những việc trấn hưng ấy là đổi mới phương pháp học: Học phải đi đôi với hành._ Vậy giữa “học” và “hành” có mối quan hệ gắn bó như thế nào?
II. Thân bài:
1. Theo ý kiến của Nguyễn Thiếp : 
Phương pháp học là: Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm.
Như vậy, ý kiến của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là đúng đắn và phù hợp trong mọi thời đại. Đó là một ý kiến rất xác đáng và tiến bộ, coi trọng vấn đề thiết yếu trong việc học.
2. 
a ) Vậy học là gì? , “ Hành” là gì? 
_ “Học” là tiếp thu những kiến thức trong sách vở qua sự truyền đạt, giảng dạy của nhà thơ, mọi người hay tự tìm hiểu lấy
._ “Hành” là đem nhưng điều đã học vận dụng vào thực tế trong cuộc sống.b) Giữa “học” và “hành” có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ.
_ “Học” chính là phần lí thuyết ta tiếp nhận được từ những tri thức của nhiều người, giúp ta có được những hiểu biết, nhận thức đúng đắn, giúp tư duy, tính cách và tâm hồn phát triển.
_ Có học thì mới có hiểu biết mà học để làm ( hành). Nói theo Nguyễn Thiếp “ Theo điều học mà làm” , còm theo Bác Hồ “ học mà không hành hành thì học vô ích”.
_ Thực hành là điều kiện tốt để người học kiểm nghiệm lại phần lí thuyết đã học, bổ sung hoàn chỉnh cho lí thuyết, đem những điều đã học để giúp ích cho cuộc sống.
_ Tuy nhiên “hành mà không học thì hành không trôi chảy” ( Bác Hồ). Nếu không có lí thuyết thì việc thực hành chắc chắn sẽ gặp khó khăn, cơ hội thành công sẽ khó hơn.
c) “ Học” và “ Hành” phải đi đôi với nhau.
- Có kết hợp được mối quan hệ gắn bó giữa “học” và “hành” thì con người mới dễ đi đến thành công.
_Phương châm của nhà trường chúng ta hiện nay: “ Học phải đi đôi với hành”, “ Lí thuyết phải gắn liền với thực tiễn” ( dẫn chứng).
_ 
Như vậy, ý kiến của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là đúng đắn và phù hợp trong mọi thời đại.
III. Kết bài : _ Học kết hợp với hành là phương pháp học tập tiến bộ và mang tính thiết thực
 _ Liên hệ bản thân
Vai trò của sách
Sách đã có mặt trong cuộc sống của con người từ rất xa xưa. Ban đầu sách được làm từ các thanh tre, trúc, nứa gỗ, sang thế kỉ XV sách mới được làm ra từ giấy. Trong cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài, con người đã có vai trò quan trọng trong đời sống nhân loại. Chính vì thế, Mác-xim Goóc- ki đã nói: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức. Chỉ có kiến thức mới là con đường sống”.
Vậy sách là gì? Theo A.Ghéc- xen (quan niệm ngày xưa): Sách là di huấn tinh thần của thế này đối với thế hệ khác: đó là lời khuyên của người già sắp từ giã cõi đời đối với người trẻ mới bước vào cuộc sống, Nhưng trong sách không chỉ có quá khứ. Sách còn là văn kiện giúp ta làm chủ hiện tại, nắm lấy tất cả mọi chân lí và sức mạnh được tìm ra và chọn lọc qua nhiều đau khổ, đôi khi nhuốm đầy mồ hôi và máu, sách báo là cương lĩnh của tương lai. Theo quan điểm ngày nay: sách là sản phẩm tinh thần phi vật thể, là kho báu trí tuệ của nhân loại từ xưa đến nay.
Còn kiến thức là gì? Kiến thức là kĩ năng, kĩ xảo, là những hiểu biết của con người trong cuộc sống. Khi chúng ta muốn giải một bài văn thì chúng ta cần có một kĩ năng giải bài văn và cách viết bài văn ấy. Con đường sống là con đường phát triển trí tuệ. Theo M.I Xa-cốp-xki, sách là nguồn kiến thức của con người, do đó cũng là nguồn sức mạnh của con người. Vì vậy, sách và kiến thức có mối quan hệ rất mật thiết với nhau.
Sách có một tầm quan trọng trong đời sống của con người.
Sách là công cụ, là phương tiện để giao tiếp với nhau. Từ xa xưa, con người đã có những phát minh vĩ đại trong khoa học kĩ thuật, những tác phẩm văn học tuyệt vời, những ý kiến và những câu hỏi chưa được thống nhất và giải đáp. Nhờ sách mà con tìm ra sự thật, tìm ra được chân lí đúng đắn cho nhân loại.
Sách là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Sách như nhà sử học nhỏ nhắn ghi chép lại từng quá trình lịch sử phát triển của loài người một cách đúng đắn nhất, chi tiết nhất giúp cho con người ngày nay có thể hiểu được lịch sử phát triển của đất nước, tạo nên một niềm tự hào dân tộc.
Sách là luồng thông tin vượt thời gian và không gian. Nó mở ra cho con người thấy những bí mật và quy luật của thiên nhiên. Sách giúp chúng ta thấu hiểu những bí mật và quy luật thiên nhiên. Sách giúp chúng ta thấu hiểu những quy luật đó để trở thành người chủ trái đất; người cải tạo trái đất và người sáng tạo một thế giới mới tốt đẹp hơn. Sách cung cấp kiến thức cho con người về mọi mặt: tự nhiên, xã hội, giúp con người hiểu biết rộng hơn, giúp con người tồn tại được trong cuộc sống hiện đại.
Sách là sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra. Tất cả những cái tốt đẹp nhất, quý báu nhất, thông minh nhất và kì diệu nhất đều chứa đựng trong quyển sách.
Sách như màn ảnh nhỏ đưa con người đi du lịch trên khắp thế giới.
Ai yêu mến sách sẽ không bao giờ cảm thấy thiếu người bạn trung thành, một người bạn đường trong mọi thành công trong mọi việc làm của mình. Sách là người khuyên bảo hữu ích, người đồng chí vui vẻ, người an ủi chân tinh. Khi đọc, khi nghiên cứu, khi suy nghĩ, chúng ta có thể giải trí một cách lành mạnh, trong sạch: có thể sử dụng tốt thời gian rãnh rỗi vào bất cứ lúc nào và trong mọi hoàn cảnh.
Sách không những mở rộng được tầm nhìn và làm phong phú hiểu biết của chúng ta trong suốt cuộc đời, sách đã và đang là người giúp đỡ, là người thầy, người bạn tâm tình của chúng ta. Đứng sau “ Thuế máu” là một Hồ Chí Minh – một người thầy vĩ đại của văn học, của chính trị, của ngoại giao. Đứng sau “Đi bộ ngao du” là một Rút-xô – một bậc thầy của giáo dục
Chúng ta hãy học cách tôn trọng những cuốn sách, chúng ta hãy nhớ rằng sách do con người tạo ra, vì vậy chúng ta tôn trọng sách cũng là tôn trọng con người.
Chúng ta yêu sách nhưng không mù quáng như Đôn-ki-hô-tê trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Xéc-van-tex. Chúng ta cũng phải biết lựa chọn sách tốt, tránh xa những sách có hại. Theo Đề-các: “Đọc những cuốn sách tốthơn nữa, đấy lại là các cuộc chuyện trò uyên bác mà trong đó
VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN SỐ 6 - VĂN NGHỊ LUẬN (Làm tại lớp)
 A. YÊU CẦU
 - Vận dụng kĩ năng trình bày luận điểm vào việc viết bài văn chứng minh (hoặc giải thích) một vấn đề xã hội hoặc văn học gần gũi với các em.
 - Tự đánh giá chính xác hơn trình độ tập làm văn của bản thân, từ đó, rút ra những kinh nghiệm cần thiết để các bài làm văn đạt kết quả tốt hơn
. B. GỢI Ý MỘT SỐ ĐỀ BÀI ĐỂ BÀI THAM KHẢO
Đề 1.
Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước.
 Đề 2. Từ bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, hãy nêu suy nghĩ mối quan hệ giữa “học” và “hành”.
 Đề 3. Câu nói của M. Go-rơ-ki “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống” gợi cho em những suy nghĩ gì?
Gợi ý
 Những vấn đề nêu ra trong đề bài tham khảo là những nội dung các em được luyện tập trước đó. Lần này, các em phải kết hợp trình bày nhiều luận điểm nối tiếp nhau để thành một bài tập làm vãn (kiểu bài chứng minh hoặc giải thích)
ở để 1 có thể đưa ra các luận điểm sau :
 1. Giới thiệu văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ và vai trò của những người lãnh đạo anh minh. 
2.Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đểu là những người lãnh đạo anh minh. 
a)Trước hết, cả hai đều là những người có lòng yêu nước thiết tha, căm thù sâu sắc 
* Lí Công Uẩn dời đô vì muốn đất nước hưng thịnh dài lâu, 
* Trần Quốc Tuấn yêu nước đến “thường tới bữa quên, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa ; chỉ cảm tức chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù”. 
b)Nghiêm khắc phê phán những điểu sai trái, khồng có lợi cho quốc gia:
+ Lí Công Uẩn phê phán hai triều Đinh, Lê không biết nhìn xa trông rộng mà dời đô khiến cho muôn dân cơ cực; 
+Trần Quốc Tuấn phê phán tướng sĩ không biết lo cho vận mệnh đất nước, chỉ ham ăn chơi hưởng lạc.
 c) Cả hai đều là những người sáng suốt, mưu lược : 
- Lí Công Uẩn nhìn ra Thăng Long là nơi thuận lợi để đóng đô, 
- Trần Quốc Tuấn khích lệ tướng sĩ lòng tự hào dân tộc, tự trọng cá nhân, ý chí diệt giặc cứu nước, viết Binh thư yếu lược để tướng sĩ học tập binh pháp. 
d) Hai vị có công đánh giặc cứu nước và xây dựng quốc gia hưng thịnh, bển vững. 
************************************************************
* Ví dụ. ở đề 2 có thể đưa ra các luận điểm sau
1. Hiểu được:
- “hành” là thực hành, luyện tập, áp dụng lí luận vào thực tiễn;
- “học” là nắm lí thuyết, nắm kiến thức. 
- “Học” và “hành” phải đi đôi với nhau, quan hệ gắn bó, hỗ trợ nhau.
 - “Học” mà không “hành” thì chỉ là lí thuyết suông, là học không có mục đích.
 - “Hành” mà không “học” thì làm sẽ không biết đường hướng, phải mày mò, mất nhi^u thời gian và dễ sai lệch mục đích. 
  Bài làm Bài viết số 6 lớp 8 đề 1: Dựa vào các văn bản Chiếu dời đô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lý Công uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước. 
Đối với một quốc gia, nhắc đến những nhà lãnh đạo đất nước là nhắc đến những người đứng đầu bộ máy hành chính nhà nước hay tổ chức quân sự, văn hoá... Đứng trên cương vị một nhà lãnh đạo, trước hết họ phải là những người có tầm nhìn xa trông rộng, nhận định đúng tình hình đất nước, từ đó xác định đúng nhiệm vụ của cả dân tộc. 
 Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đều là những nhà lãnh đạo tài ba, uyên bác thông hiểu kim cổ đông tây. Vị vua đầu tiên của triều Lý đã nhắc đến gương chuyển đô của vua Bàn Canh nhà Thương, nhà Chu. Trần Quốc Tuấn lại nêu gương những anh hùng hào kiệt, biết xả thân vì chủ tướng vì đất nước: Do Vu, Dự Nhượng, Kỉ Tín,... Có thể nói, biết "ôn cố” để "tri tân" là một trong những tố chất không thể thiếu của một nhà lãnh đạo. Và từ việc "nhớ chuyện cũ", các nhà lãnh đạo tài ba đã thể hiện thiên năng "biết chuyện mới, chuyện đời nay” rất tài tình. Nhà Đinh, Lê "không noi theo dấu cũ Thương Chu" giữ nguyên vị trí kinh đô tại Hoa Lư mà đất Hoa Lư chỉ là chốn núi rừng hiểm trở, khắc nghiệt. Điều đó khiến thời vận đất nước gặp nhiều trắc trở. Lịch sử cũng đã chứng minh điều đó, hai nhà Đinh Lê triều vận ngắn ngủi, nhân dân gặp nhiều khó khăn.. Có thể nói, việc phê phán hai triều Đinh, Lê một phần lớn đã thể hiện tầm nhìn lãnh đạo của Lí Công Uẩn. Ông đã nhìn rõ một thực tế quan trọng: đất nước đang bước vào thời bình, Hoa Lư không còn phù hợp với vị thế kinh đô nữa! 
 Trần Quốc Tuấn cũng vậy. Từ thực tế của việc giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta lần một và thái độ của chúng hiện nay, ông đã thấu rõ nguy cơ của một cuộc chiến chống xâm lược. Sang nước ta, quân Nguyên Mông “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt Tể phụ”, “đi lại nghênh ngang”, bắt dân ta cống nạp khoáng sản, vàng bạc.. Vậy rõ ràng, chúng chưa hề thấm thía bài học từ thất bại của cuộc xâm lược lần một và đang mưu mô cuộc chiến tranh ăn cướp lần hai. Giặc như vậy còn lực lượng quân sĩ ta thì sao? Vị nguyên soái lỗi lạc thêm một lần đau xót khi chứng kiến thực cảnh binh sĩ dưới quyền lơ là mất cảnh giác trước nguy cơ mất nước. Họ “hoặc thích chọi gà, hoặc mê tiếng hát”, chơi cờ... Ông cay đắng chỉ ra một điều tất yếu là khi giặc đến những thú vui ấy chỉ trở thành tai họa “cựa gà trống không đâm thủng áo giáp của giặc”, “tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai", “mẹo đánh cờ không thể dùng làm mưu lược nhà binh” 
 Từ việc nhìn nhận thấu suốt tình hình đất nước, các nhà lãnh đạo anh minh đều xác định rõ nhiệm vụ của quân và dân. Điều quan trọng là họ có những quyết định đúng đắn, những hành động táo bạo để đưa đất nước đển được bến bờ của sự bình

Tài liệu đính kèm:

  • docde_on_tap_hoc_ky_2_mon_ngu_van_8.doc