Đề luyện thi học kỳ 1 môn Ngữ văn Lớp 9

docx 28 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 25/02/2026 Lượt xem 17Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề luyện thi học kỳ 1 môn Ngữ văn Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề luyện thi học kỳ 1 môn Ngữ văn Lớp 9
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
-Nguyễn Dữ-
Câu 1.
-Ý nghĩa nhan đề “Truyền kì mạn lục”: Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
-Tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ là áng “thiên cổ kì bút” vì đó bút lạ ngàn xưa, cũng có nghĩa là áng văn hay ngàn đời.
Câu 2. Đọc và thực hiện
a.Trong đoạn truyện có 3 lời thoại của Vũ Nương:
*Lời thoại 1: Nàng đã nói đến thân phận của mình “là con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”, nói đến tình nghĩa vợ chồng gắn bó: “sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh”. Nàng còn khẳng định tấm lòng thủy chung trong trắng trong suốt thời gian chồng đi lính: “cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”, rồi tha thiết cầu xin chồng “đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Điều đó cho thấy Vũ Nương đã cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.
*Lời thoại 2: Với tâm trạng đau đớn, Vũ Nương đã bày tỏ nỗi thất vọng khi không hiểu vì sao chồng lại đối xử tàn nhẫn bất công. Nàng không có quyền bảo vệ mình, thậm chí được bảo vệ cũng không có: “Hàng xóm thanh minh biện bạch cho nàng, cũng chẳng ăn thua gì cả”. Vũ Nương-người phụ nữ của gia đình-đã mất đi “thú vui nghi gia nghi thất” tình cảm chung thủy dành cho chồng đã bị Trương Sinh phủ nhận một cách tàn nhẫn.
*Lời thoại 3: Là lời độc thoại như một lời than của Vũ Nương trước trời cao sông thẳm, cũng là lời nguyện cầu xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất cũng như phẩm hạnh của nàng. Hành động trẫm mình của Vũ Nương là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự. Nó chất chứa nỗi tuyệt vọng cay đắng nhưng cũng đi theo sự chỉ đạo của lí trí.
b.Viết tiếp câu mở đoạn sau để hoàn thành đoạn văn khoảng 10-12 câu theo cách diễn dịch hoặc tổng phân hợp:
Bài làm
	Nhà văn đã đặt nhân vật Vũ Nương vào nhiều hoàn cảnh khác nhau để bộc lộ những phẩm chất đẹp đẽ của nàng. Ở phần đầu truyện, Vũ Nương được giới thiệu”tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp:, vì mến dung hạnh của nàng nên Trương Sinh đã xin với mẹ trăm lạng vàng cưới về làm vợ. Trong cuộc sống vợ chồng, nàng luôn cư xử đúng mực, nhường nhịn, “giữ gìn khuôn phép”, vì thế dù “Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” nhưng Vũ Nương “không từng để lúc nào vợ chồng phải đến bất hòa”. Thế rồi chiến tranh xảy ra, Trương Sinh lại là con nhà hào phú nhưng không có học nên bị ghi tên vào sổ đi lính, Vũ Nương “rót chén rượu đầy”, tiễn chồng đi bằng những lời dặn dò tràn đầy nghĩa tình đằm thắm; nàng chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Nàng cũng cảm thông cho nỗi vất vả chồng phải chịu đựng, nỗi niềm của bà mẹ xa con đồng thời còn bày tỏ nỗi khắc khoải nhớ mong của người vợ trẻ. Đọc đến đây, người đọc xúc động “ứa hai hàng lệ”. Khi Trương Sinh đi chiến trận, Vũ Nương càng bộc lộ rõ là người vợ thủy chung, yêu chồng hết mực hơn. Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn-cảnh đẹp mùa xuân hay mây che kín núi-cảnh buồn mùa đông, nàng lại chạnh buồn, nhớ nhung da diết, thổn thức tâm tình, “nỗi buồn góc bể chân trời, nhớ người ải xa” cứ dài đằng đẵng theo năm tháng. Vũ Nương cũng vừa là một người mẹ yêu con, một nàng dâu hiếu thảo với mẹ chồng. Một mình nàng vừa nuôi con nhỏ, vừa hết lòng chăm sóc, lễ bái thần Phật, lấy lời ngon ngào khuyên lơn khi mẹ chồng ốm và lời trăn trối của mẹ chồng trước khi mất là sự ghi nhận nhân cách, sự đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình: “xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”, khi bà mất, Vũ Nương cũng lo việc ma chay chu đáo như đối với cha mẹ đẻ mình. Vì quá yêu con, thương con thiếu vắng tình cha nên hàng đêm, Vũ Nương đã trở bóng mình trên vách bảo đó là cha Đản, nàng đâu biết rằng chính lời nói dối đầy yêu thương và thiện chí ấy lại chính là con dao giết chết nàng sau này. Khi Trương Sinh đi lính trở về nhà, tưởng chừng niềm vui đoàn tụ sẽ bù đắp mọi thiệt thòi cho nàng, nhưng khổ thay nàng không được hạnh phúc mà còn bị chồng nghi oan, cho rằng vợ hư không chung thủy, mặc cho Vũ Nương đã cố gắng phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình, cứu vãn hạnh phúc gia đình nhưng Trương Sinh vẫn không tin, khiến Vũ Nương phải trẫm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để chứng minh sự trong sạch của mình. Sau khi trẫm mình tự vẫn, nàng được Linh Phi cứu mạng, được đối xử tình nghĩa ở dưới thủy cung nhưng dù vậy, nàng vẫn luôn là người vợ yêu chồng, người mẹ thương con, vẫn nặng lòng nhớ về quê hương, nhớ về phần mộ tổ tiên, vẫn khao khát được phục hồi danh dự. Vũ Nương quả là người phụ nữ đẹp người đẹp nết, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, ở nàng đã hội tụ những phẩm hạnh cao quý của người phụ nữ Việt Nam hoàn hảo, là “khuôn vàng thước ngọc” của mọi gia đình dù cho số phận có ngắn ngủi.
c.Hãy chỉ ra những nguyên cớ khiến cho một người phụ nữ đức hạnh như Vũ Nương không thể sống mà phải chết một cách oan uổng.
	Trương Sinh có tính đa nghi, hay ghen. Đó chính là mầm mống của bi kịch sau này. Biến cố xảy ra là khi Trương Sinh đi lính xa nhà, khi về mẹ đã mất, trong lòng vô cùng buồn khổ, bế đứa con lên ba ra thăm mộ bà, đứa trẻ quấy khóc không nhận cha. Rồi lời nói ngây thơ của nó như tiếng sét đánh ngang tai đã thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng Trương Sinh: “Ô hay! Thể ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.” Khi biết được những thông tin gay cấn, đáng ngờ ấy, Trương Sinh đã cư xử hồ đồ, thô bạo, phũ phàng với Vũ Nương. Là con nhà giàu, lại không có học, bị tính ghen tuông làm cho mờ mắt nên Trương Sinh không đủ bình tĩnh, sáng suốt để phân tích những điều vô lí trong lời con trẻ, vội kết luận là vợ hư nên đã bỏ ngoài tai những lời biện bạch, thanh minh, van xin của vợ. Đã vậy chàng còn giấu không kể lời con nói, ngay cả những lời bênh vực của họ hàng, hàng xóm cũng không thể cởi bỏ oan khuất cho Vũ Nương bởi Trương Sinh đã bỏ ngoài tai tất cả, bỏ qua cả những cơ hội để có thể cứu vãn hạnh phúc gia đình mà chỉ biết “la um lên cho hả giận”. Cuộc hôn nhân không bình đẳng giữa một bên là con kẻ khó còn một bên là con nhà hào phú cũng là nguyên nhân dẫn đến bi kịch. Rồi lễ giáo phong kiến hà khắc, người phụ nữ không có quyền được nói, được tự bảo vệ mình; người phụ nữ không chung thủy sẽ bị lên án hắt hủi, chỉ còn con đường duy nhất là cái chết mà thôiCuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa gây ra cảnh sinh ly tử biệt là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến cái chết oan uổng của Vũ Nương. Bi kịch của Vũ Nương do nhiều nguyên nhân đưa tới nhưng nói chung là do xã hội phong kiến bất công, sự cách bức giữa kẻ giàu, người nghèo cùng thái độ trọng nam khinh nữ
Bài 3. Chỉ ra những yếu tố truyền kì trong truyện. Nhận xét về cách đưa các yếu tố truyền kì đó và nêu ý nghĩa.
a.Những yếu tố truyền kì trong truyện:
-Phan Lang nằm mộng thấy người con gái áo xanh, hôm sau được người mang biếu một con rùa mai xanh, nhớ đến giấc mộng đêm qua nên đem rùa đi thả.
-Phan Lang gặp nạn lạc vào động rùa gawpjj Linh Phi, được Linh Phi cứu giúp, sau đó lại gặp được Vũ Nương-người cùng làng.
-Phan Lang được xứ giả của Linh Phi là Xích Hỗn rẽ nước đưa về dương thế.
-Hình ảnh Vũ Nương hiện về trong lễ giải oan ở bến Hoàng Giang lung linh huyền ảo lúc ẩn lúc hiện rồi dần dần biến mất.
b. Nhận xét về cách đưa các yếu tố truyền kì:
-Yếu tố truyền kì đan xen với yếu tố thực về địa danh, thời điểm, sự kiện lịch sử.
-Những chi tiết về trang phục của mỹ nhân, tình cảnh nhà Vũ Nương không người chăm sóc sau khi nàng mất.
àCách đưa những yếu tố kì ảo khiến cho thế giới kì ảo lung linh mơ hồ trở nên gần gũi với đời thực hơn, làm tăng độ tin cậy cho người đọc, người nghe, khiến họ không cảm thấy ngỡ ngàng.
c.Ý nghĩa những chi tiết truyền kì:
-Làm nên đặc trưng của thể loại truyền kì.
-Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp về phẩm giá của Vũ Nương. Ở thế giới khác, nàng vẫn luôn quan tâm đến chồng con, đến phần mộ của tổ tiên, vẫn khát khao phục hồi danh dự.
-Tạo cho câu chuyện kết thúc có hậu, làm giảm độ căng về tâm lí, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân về lẽ công bằng, chiến thắng cuối cùng của cái thiện.
-Tuy nhiên tính bi kịch vẫn không mất đi, tiềm ẩn trong yếu tố kì ảo.
Bài 4. Chiếc bóng trên vách là chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Đúng hay sai, tại sao?
	Cái bóng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo, đặc sắc. Nó có vai trò thắt nút và mở nút, làm câu chuyện thêm sinh động, hấp dẫn, thể hiện được tính cách nhân vật. Cái bóng xuất hiện lần đầu của Trương Sinh mà bé Đản gọi bằng cha nó để rồi khi Trương Sinh hiểu ra sự thực sau cái chết của vợ thì mọi chuyện đã quá muộn: “Thì ra, ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Chi tiết được giấu xuống phần mở nút làm người đọc bất ngờ, bàng hoàng. Cái bóng là cảnh ngộ cô đơn buồn tủi của người phụ nữ xa chồng, là lòng thương nhớ thủy chung, là nỗi khao khát đoàn tụ gia đình của người vợ trẻ, là tình yêu thương của mẹ muốn bù đắp cho con sự thiếu vắng tình cha. Đó là trò đùa trong thương nhớ, là lời nói dối đầy tình yêu thương. Cái bóng gợi sự gắn bó như hình với bóng nhưng ngờ đâu nó lại là con dao chia cắt dẫn đến cái chết oan uổng của người vợ trẻ. Sự ngộ nhận của đứa trẻ ngây thơ rồi sự hiểu nhầm của người chồng diễn ra rất tự nhiên. Tác giả để Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của người vợ từ cái bóng của mình cũng thật hợp lí. Chàng thanh toán được nỗi đau về lòng chung thủy của người vợ thì lại phải chịu nỗi đau đớn gấp bội dày vò vì đã nghĩ oan cho vợ dẫn đến cái chết của nàng. Nguyễn Dữ đã lấy cái bóng để khái quát về bi kịch của con người, cảm hứng phê phán và ngợi ca của tác giả được kết tinh ở chi tiết này.
Bài 5. Viết đoạn khoảng 10-12 câu phân tích ý nghĩa của chi tiết kết thúc truyện “Vũ Nương trở về trong chốc lát”.
Bài làm
	Khi Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang, Vũ Nương trở về trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng lúc ẩn lúc hiện. Chi tiết ấy ám ảnh day dứt người đọc. Câu nói của Vũ Nương nghe thật thảm thương, đau đớn làm sao! Đó là lời buộc tội nhân gian phong kiến xưa bất công thiếu nhân đức gây nên những oan nghiệt, khổ đau cho người phụ nữ khiến họ không còn chốn nương thân: “Thiếp cảm ơn đức Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.” Sự hiện diễn đẹp đẽ của Vũ Nương là minh chứng khẳng định nàng vô tội, ở dưới thủy cung, nàng được đối xử xứng đáng với phẩm giá của mình, trước sau Vũ Nương vẫn là người phụ nữ hiền hậu thủy chung. Đó là một kết thúc truyện có hậu nhưng không hoàn toàn tươi sáng, vừa vui, vừa buồn, vừa thực, vừa ảo. Nàng trở về mà vẫn xa cách “giữa dòng”, chỉ trong chốc thoáng. Vũ Nương và chồng vẫn chia lìa âm dương đôi ngả, hạnh phúc vẫn vĩnh viễn trôi xuôi. Nguyễn Dữ đã gửi vào đó những giấc mơ của mình, cũng là của nhân dân về sự giải oan cho người oan ức, hạnh phúc cho người tốt đẹp nhưng mãi vẫn chỉ là giấc chiêm bao, ảo ảnh trong giây lát để rồi nhà văn lại đưa người đọc trở về với thực tại sau giấc mơ khi sương khói giải oan tan biến chỉ còn lại sự thực cay đắng: “Ròi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần và biến đi mất”. Nỗi oan của người phụ nữ không có đàn tràng nào có thể giải được, kể cả sự ân hận muộn màng của người chồng cũng không thể cứu vãn được hạnh phúc cho người phụ nữ. Kết thúc truyện có hậu ấy phần nào làm giảm độ căng về tâm lí cho người đọc những không làm mất đi màu sắc bi kịch cho câu chuyện. Nó để lại dư vị ngậm ngùi, là bài học thấm thía về giữa gìn hạnh phúc gia đình, tố cáo xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa khiến người phụ nữ luôn là nạn nhân đau đớn nhất. Kết thúc truyện vừa giàu giá trị hiện thực, vừa đậm giá trị nhân đạo, vẫn nổi bật được tư tưởng của tác phẩm.
BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỌI XE KHÔNG KÍNH
-Phạm Tiến Duật-
Câu 1. Qua hai khổ thơ đầu, viết đoạn văn từ 10-12 câu nêu cảm nhận và suy nghĩ của em về hình ảnh những chiếc xe không kính và tư thế của những người lính lái xe trên những chiếc xe ấy.
Bài làm
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như xa như ùa vào buồng lái.
Hai khổ thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính và những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Mở đầu khổ thơ là một hình ảnh rất lạ, rất giản dị với ba từ “không” mang nghĩa phủ định được lặp lại tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho câu thơ bởi tính chân thực và độc đáo: “Không có kính không phải vì xe không có kính”. Hình ảnh những chiếc xe kì dị, trần trụi như vậy không hiếm trong thời chiến tranh trên tuyến đường Trường Sơn, nhà thơ đã giải thích nguyên nhân khiến những chiếc xe “không có kính” ấy cũng rất thực và giản dị như lời nói thường ngày: “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Từ “bom” được điệp lại hai lần kết hợp với những động từ “giật”, “rung” đã nhấn mạnh hơn và làm tăng lên bội phần sự dữ dội tàn khốc nơi chiến trường. Trên những chiếc xe “không kính”, người lính hiện ra với tinh thần lạc quan, tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh:
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nghệ thuật đảo ngữ “ung dung” và điệp từ “nhìn” cho thấy tư thế thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ vượt lên và chiến thắng hoàn cảnh; nhịp thơ 2/2/2 với những dấu phẩy khiến âm điệu câu thơ chậm rãi như diễn tả thái độ thản nhiên, đàng hoàng của người lính. Hai tiếng “nhìn thẳng” là cái nhìn trang nghiêm, bất khuất, người lính đang “nhìn thẳng” vào gian khổ, vào con đường ngày đêm bị bom đạn tàn phá để vững tay lái vượt qua mọi hiểm nguy, mất mát, hi sinh. Với tư thế ấy, người lính đã biến hiểm nguy, trở ngại trên đường thành niềm vui thích, một sự hưởng thụ khi được tiếp xúc mạnh mẽ với không gian bên ngoài:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
Đoạn thơ đã diễn tả cảm giác về tốc độ trên những chiếc xe đang lao nhanh ra chiến trường với những hình ảnh “gió”, “con đường”, “sao trời”, “cánh chim” được so sánh, nhân hóa mang đậm chất thơ qua tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, nhạy cảm của những người lính. Câu thơ “Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” là hình ảnh ẩn dụ, phải chăng đường Trường Sơn – con đường giải phóng miền Nam-chính là con đường của trái tim, của tình yêu Tổ quốc ở những người lính trẻ? Về nghệ thuật, việc lặp lại những động từ “nhìn”; “thấy” như một niềm sảng khoái bất tận: “không có kính” càng dễ “nhìn trời, nhìn đất” với tư thế “nhìn thẳng” thật hiên ngang. Đoạn thơ là những cảm xúc ấn tượng về hiện thực nơi chiến trường nhưng qua cách cảm nhận riêng của nhà thơ, nó đã trở thành những hình ảnh đẹp, lãng mạn, bay bổng khiến lời thơ trôi chảy như những chiếc xe không kính vun vút trên đường ra trận.
Câu 2. Triển khai ý kiến sau thành đoạn văn diễn dịch hoặc tổng phân hợp khoảng 12 câu. Gạch dưới câu ghép, câu cảm thán.
Bài làm
Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Hai khổ thơ cho ta thấy thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, tinh thần lạc quan của những người chiến sĩ trẻ. Những câu thơ giản dị ấy như lời nói cửa miệng hằng ngày của người lính dù thiên nhiên nơi chiến trường vô cùng khắc nghiệt với gió, bụi, nắng, mưa. Với cấu trúc lặp “Không có kínhừ thìchưa cần” cho thấy giọng điệu ngang tàng, góp phần khắc họa chân dung những con người đứng cao hơn hoàn cảnh, đứng trên bom đạn giặc thù, coi hiểm nguy là dịp để thử sức để chứng tỏ bản lĩnh chiến sĩ. “Gió bụi” tượng trưng cho những gian khổ, thử thách trong cuộc đời; chữ “ừ” vang lên như một sự thách thức với những khó khăn:
Không có kính, ừ thì có bụi
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thui.
Có thể thấy người lính đã bình thường hóa cái không bình thường ấy để vượt lên tất của mọi khó khăn bằng sự cố gắng và tinh thần trách nhiệm cao. Hai khổ thơ đã khẳng định được ý chí, sức mạnh của tuổi trẻ, sức chịu đựng, tinh thần dũng cảm, sẵn sàng chấp nhận thử thách một cách hồn nhiên, ngang tàn, đậm chất lính. Niềm vui và tiếng cười hồn nhiên, sôi nổi, tinh nghịch của họ vẫn cứ tồn tại ngay giữa cái gian khổ khắc nghiệt, giữa “bom giật bom rung” nơi chiến trường.
Câu 3. Cho đoạn thơ:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ đi rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi lại đi trời xanh thêm.
a.Hiểu thế nào về “Bếp Hoàng Cầm”? Phân tích gia trị biểu cảm của từ láy “chông chênh”, “lại đi” trong câu thơ?
-Bếp Hoàng Cầm là kiểu bếp dã chiến của bộ đội ta đặt dưới lòng đất, khi đun khói tản ra để địch không phát hiện được. Bếp này mang tên người sáng tạo ra nó trong thời kháng chiến chống Pháp: Anh hùng nuôi quân Hoàng Cầm.
-Từ láy “chông chênh” và điệp ngữ “lại đi” diễn tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của người lính mà không một sức mạnh nào có thể ngăn cản.
b.Phân tích hai khổ thơ trên bằng đoạn văn khoảng 12 câu theo cách tổng phân hợp. Gạch dưới lời dẫn trực tiếp và câu bị động.
Bài làm
	Tình đồng chí, đồng đội, tình gia đình gắn bó keo sơn thắm thiết, đó là một trong những nét đẹp phẩm chất của người lính. Dưới làn mưa bom bão đạn của kẻ thù, những người lính trẻ sôi nổi. yêu đời ra đi từ nhiều miền quê khác nhau nhưng “đã về đây” là cùng chung một lí tưởng, một nhiệm vụ: chính tình cảm bạn bè, tình đồng chí, tình gia đình đã khiến họ trở nên gắn bó thân thiết. Chiến tranh đã tạo nên những tiểu đội xe không kính tiến vào con đường giải phóng miền Nam, là con đường tươi sáng, con đường chính nghĩa nên ngày càng có thêm nhiều bạn bè, đồng chí:
Găp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ đi rồi
Cái “bắt tay” độc đáo qua ô cửa kình vỡ là cách biểu lộ tình cảm thật thoải mái, hồn nhiên mà cũng rất ngang tàng, đậm chất lính. Cái bắt tay cũng đủ ấm lòng để động viên, cảm thông cho nhau; nó như truyền cho nhau cả tâm hồn, tình cảm, là biểu hiện đẹp, xúc động của tình đồng chí, tuy mộc mạc nhưng lại vô cùng sâu sắc. Tình cảm ấy thật ấm áp, thắm thiết, thân thương như ruột thịt, anh em trong một gia đình:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
“Bếp Hoàng Cầm” là kiểu bếp dã chiến của bộ đội ta đặt dưới lòng đất, khi đun khói tản ra để địch không phát hiện được; nó mang tên Anh hùng nuôi quân Hoàng Cầm. Một cách định nghĩa về gia đình vừa tếu táo, hóm hỉnh, vừa thiêng liêng, sâu nặng mà cũng thật bình dị: “Chúng bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Đó là tình cảm anh em trong gia đình, sống và gắn bó với nhau trong tình đồng đội keo sơn, chính tình cảm ấy đã tạo nên sức mạnh nâng bước chân người lính để các anh lại tiếp tục hành quân vào nơi bom đạn. làm xanh thêm niềm tin, thắp sáng thêm hi vọng về ngày mai chiến thắng: “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Từ láy “chông chênh” và điệp ngữ “lại đi” diễn tả nhịp sống chiến đấu và hành quân của người lính mà không một sức mạnh nào có thể ngăn cản. Hình ảnh “trời xanh thêm” là hình ảnh ẩn dụ đẹp gợi niềm tin, hi vọng vào một ngày mai tươi sáng. Vậy là, bức tranh về tình cảm đồng chí, tình gia đình của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời chống Mĩ đã được nhà thơ Phạm Tiến Duật khắc họa một cách chân thực qua hai khổ thơ trên.
Câu 4. Cho khổ thơ:
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
a.Từ “trái tim” trong câu thơ cuối cùng được dùng với nghĩa như thế nào”?
	“Trái tim” là hình ảnh hoán dụ. Đó chính là sức mạnh để những chiếc xe băng mình ra tiền tuyến, là hình ảnh hội tụ vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của người chiến sĩ lái xe, nó đã tỏa sáng một lẽ sống cao đẹp, thiêng liêng, chứa đựng bản lính hiên ngang, lòng dũng cảm tuyệt vời, mang 

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_luyen_thi_hoc_ky_1_mon_ngu_van_lop_9.docx