Trọng tâm ôn luyện Văn nghị luận 9

doc 65 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 25/02/2026 Lượt xem 12Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Trọng tâm ôn luyện Văn nghị luận 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trọng tâm ôn luyện Văn nghị luận 9
VĂN NGHỊ LUẬN 9
Đề bài: Một hiện tượng khá phổ biến ngày nay là vứt rác ra đường hoặc ở những nơi công cộng. Ngồi bên hồ, dù là hồ đẹp nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác xuống... Em hãy đặt một nhan đề gọi ra hiện tượng ấy và viết bài văn nêu suy nghĩ của mình.
* Nhan đề: Rác thải - mối đe dọa của toàn nhân loại, ta có thể gợi ý cho học sinh làm bài như sau:
Dàn ý:
A. Mở bài: Học sinh có thể nêu vấn đề trực tiếp hoặc nêu vấn đề theo hình thức phản đề.
 B. Thân bài: Lần lượt trình bày sự việc hiện tượng theo trình tự sau.
1. Những biểu hiện của hiện tượng:
- Nêu ra các biểu hiện của rác thải nơi công cộng như: đường phố, công viên, bờ hồ, đi tích lịch sử, danh lam thắng cảnh.
2.Nguyên nhân:
- Do lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác.
- Do thói quen xấu đã có từ lâu
- Do không ý thức được hành vi của mình là đang góp phần phá hoại môi trường, vô ý thức và thiếu văn hóa.
- Do việc giáo dục ý thức người dân chưa được làm thường xuyên và việc xử phạt chưa nghiêm túc.
- Các cấp chính quyền chưa có kế hoạch xây dụng các khu chứa rác tập trung, chưa trang bị các thừng chứa rác nơi công cộng
3.Hậu quả của sự việc hiện tương:
- Mất vẻ mỹ quan đô thị, làm xấu hình ảnh Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế.
- Ô nhiễm môi trường nước, không khí, làm chết các sinh vật có lợi, gây ra các bệnh về đường hô hấp, bệnh tiêu hóa
-Tốn kém nhiều trong việc thuê người dọn dẹp khác khu di tích,đường phố, công viên.
4.Biện pháp khắc phục
- Đẩy mạnh tuyên truyền,giáo dục cho ng dân ý thức bảo vệ môi trường.
- Xử phạt nghiêm và nặng với những hành vi cố tình làm ảnh hưởng xấu tới môi trường
- Không chỉ có lực lượng thu dọn rác ở đường phố mà cần chú ý đến sông ngòi, kênh rạch.
- Mỗi người cần có ý thức, sửa đổi được thói quen xấu của mình.
- Có kế hoạch xây dựng các khu chứa rác tập trung, xây dựng các nhà máy xử lí, phân loại rác thải
 C.Kết bài:
- Vứt rác bừa bãi hành vi thiếu văn hóa rất đáng phê phán vì nó gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống/xã/hội/xã/hội.
- Mỗi người cần nhận thức rõ hành vi của mình,cùng nhau bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ bản thân con người khỏi những nguy cơ diệt vong.
Đề bài: Suy nghĩ về tinh thần tự học
A. Mở bài: Dẫn dắt giới thệu vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận
- Mỗi người muốn tồn tại phát triển và thích ứng được với xã hội thì cần phải học tập ở mọi hình thức bởi cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng.
- Dẫn dắt câu nói của Lê nin: "Học, học nữa, học mãi" để nêu vấn đề.
B. Thân bài:
1. Giải thích:
- Học là thu nhận kiến thức từ người khác truyền lại, rèn luyện thành kỹ năng, nhận thức.
- Các hình thức học gồm: Học ở trên lớp, học ở trường, học thầy, học bạn...
- Tự học là sự chủ động , tích cực , độc lập tìm hiểu , lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình. Tự học là tự mình tìm hiểu nghiên cứu, thu nhặt các kiến thức tự luyện tập để có kỹ năng.
- Các hình thưc tự học: Tự học ở trường, tự học ở nhà, tự học ngoài xã hội. Có thể người học tự tìm hiểu, có thể có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô giáo 
2. Nhận định đánh giá:
- Người có tinh thần tự học luôn chủ động, tự tin trong cuộc sống.
- Dẫn chứng: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Chủ tịc Hồ Chí Minh, tấm gương tự học của Phạm Văn Nghĩa...
- Khẳng định: Tự học là con đường ngắn nhất và duy nhất để hoàn thiện bản thân và biến ước mơ thành hiện thực.
3. Bàn luận mở rộng: Tự học trong mọi hoàn cảnh, môi trường (trong nhà trường, ngoài xã hội, trong các cơ quan, nơi làm việc...)
4. Phê phán: thói lười học, ỉ lại trong học sinh, không có ý trí phấn đấu vươn lên trong học tập rèn luyện.
C. Kết bài: Kết luận tổng kết, nêu nhận thúc mới, tỏ ý khuyên bảo hoặc tỏ ý hành động.
Kiểu bài phân tích nhân vật
Nhân vật trong tác phẩm tự sự bao giờ cũng mang tính cách số phận riêng. Muốn phân tích nhân vật ta phải căn cứ vào các chi tiết, phương diện liên quan đến nhân vật như: Lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, hành vi cử chỉ và nội tâm.
1. Về lai lịch: Lai lịch của nhân vật trong văn bản tự sự có thể hiểu là thành phần xuất thân hay hoàn cảnh gia đình. Lai lịch của nhân vật cũng góp phần chi phối đặc điểm tính cách nhân vật.
Ví dụ: Lai lịch của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân có hoàn cảnh xuất thân là nông dân sống ở nông thôn vì thế ông hiện lên với những phẩm chất và tính cách của một người nông dân như: Lam làm, cần cù chịu thương chụi khó. Ở nơi tản cư, ông vẫn với những công việc quen thuộc: Cuốc đất trồng rau, trồng sắn. Ông luôn qua tâm đến công việc ruộng nương đồng áng vì thế khi gặp những người tản cư từ gia Lâm lên, ông đã hỏi thăm chuyện lúa má, chuyện đất tốt, đất xấu. Cũng do xuất thân từ nông thôn nên ông luôn tự hào về quê hương của mình.
2. Về ngoại hình: Giáo viên cần hiểu được việc miêu tả ngoại hình trong văn bản tự sự cũng là cách để nhà văn hé mở tính cách nhân vật. Một nhà văn có tài thường chỉ qua một số nét phác họa có thể gúp người đọc hình dung ra diện mạo, tư thế và bản chất của nhân vật đó. Từ quan điểm về ngoại hình như trên, giáo viên linh hoạt vận dụng phương pháp DH, tổ chức, hướng dẫn học sinh khai thác để khái quát lên đặc điểm tính cách nhân vật.
Ví dụ: Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long giới thiệu anh thanh niên là một con người có tầm vóc nhỏ bé, khuôn mặt rạng rỡ. Chi tiết này đã khiến nhà họa sĩ và cô kỹ sư trẻ cảm mến anh. Con người nhỏ bé ấy lại đang làm những công việc vô cùng khó khăn gian khổ ở một nơi heo hút, quanh năm chỉ có mây mù bao phủ. Khuôn mặt rạng rỡ ấy vừa thân thiện vừa thể hiện sự tự tin, lạc quan của nhân vật này.
Ví dụ khác: Trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, vết thẹo trên khuôn mặt anh Sáu được miêu tả rất tỉ mỉ, kỹ lưỡng đã phần nào gúp người đọc cảm nhận được sự tàn khốc của chiến tranh, những hy sinh mất mát mà người lính phải gánh chịu. Vết thẹo ấy như còn là minh chứng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người chiến sĩ cách mạng.
3. Về ngôn ngữ nhân vật: Ngôn ngữ nhân vật cũng góp phần thể hiện trình độ văn hóa, tính cách nhân vật. Ngôn ngữ nhân vật gồm: Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ độc thoại nội tâm.
Ví dụ: Trong truyện ngắn Làng của Kim Lân, ngôn ngữ độc thoại nội tâm của ông Hai được nhà văn thể hiện qua đoạn văn: “Chúng nó cũng là trẻ con làng việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn bằng ấy tuổi đầu” Đoạn văn đã diễn tả được nỗi xấu hổ nhục nhã của ông Hai khi nghe tin làng mình theo tây làm việt gian, vừa thể hiện một cách xúc động tình cảm chân thành của một người cha dành cho các con. Hay lời đối thoại của ông với thằng Húc con trai ông cũng hé lộ tình cảm của ông với kháng chiến, với CM và với cụ Hồ.
Ví dụ khác: Trong truyện ngẵn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng lời đối thoại của bé Thu với Má và Bà ngoại gúp ta cảm nhận được phẩm chất, tính cách của bé Thu – một đứa bé hồn nhiên trong sáng nhưng rất ương ngạnh bướng bỉnh.
4. Về cử chỉ, hành động của nhân vật: Phẩm chất, tính cách của nhân vật cũng được thể hiện qua hành động và cử chỉ bởi lẽ nhân vật trong tác phẩm trước hết là con người của hành động và hành động của con người được thể hiện qua hành vi.
Ví dụ: Trong Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, hành động trao gói củ tam thất cho bác lái xe, bó hoa cho cô gái, ấm trà và làn trứng cho hai vị khách, cái nắm tay tạm biệt của anh thanh niên và cô gái tất cả những hành vi cử chỉ đó giúp người đọc cảm nhận đựơc lòng hiếu khách mến khách, sự quan tâm chu đáo và tình cảm chân thành mà các nhân vật đã dành cho nhau.
5. Về nội tâm của nhân vật: Là thế giới bên trong của nhân vật gồm: cảm xúc tình cảm, tâm lí, suy nghĩ của nhân vật. Nội tâm nhân vật có thể được miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp.
Ví dụ: Trong truyện ngắn Làng nhà văn Kim Lân đã miêu tả nội tâm nhân vật ông Hai khi nghe tin làng Dầu theo Tây qua đoạn văn: “Cổ ông lão nghệ ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:”. Trong đoạn văn trên thì nội tâm nhân vật ông Hai được miêu tả gián tiếp qua những biểu hiện bên ngoài cơ thể. Những biểu hiện như cổ nghẹn ắng, da mặt tê rân rân dã diễn tả nỗi đau đớn xót xa đến quặn thắt của người nông dân luôn tự hào về làng quê của mình.
I. Văn học trung đại
TRUYỆN KIỀU - NGUYỄN DU.
Đề 1: Phân tích đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”?
Dàn bài
A. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả ND:
- Đánh giá kháI quát đoạn trích: Đoạn thơ miêu tả chân dung chị em Thúy Kiều bằng bút pháp ước lệ cổ điển
B. Thân bài:
LĐ1. Khái quát chung về đoạn trích, nhân vật
- Thuộc phần đầu của tác phẩm truyện Kiều- Gặp gỡ và đính ước
- Đoạn thơ là bức chân dung về hai người con gái tuyệt sắc giai nhân: TK và TV, chân dung hai người con gái đã thể hiện tài năng bậc thầy của ND trong nghệ thuật tả người.
LĐ2. Lần lượt phân tích vẻ đẹp của TV và TK
- Lời giới thiệu chung về chị em TK
- Chân dung của Thúy Vân và tài sắc Thúy Kiều
- Phẩm chất. Lối sống của chị em Thúy Kiều.
LĐ3: Đánh giá, nhận xét về nghệ thuật của đoạn trích
C. Kết bài: Giá trị nội dung tư tưởng của đoạn trích
- Đầu tiên t/g chọn “ lời quê”, chọn điệu thích hợp: Điệu kể nôm na mang dư vị của ca dao. Nói lời quê như Nguyễn Du là nói nhún, thực chất Truyện Kiều là một đài kiến trúc bằng kĩ ngôn ngữ kì tuyệt trong nền văn học dân tộc và nhân loại; đoạn thơ là một góc của lâu đài kiến trúc ấy: chặt chẽ và tráng lệ.
3. Phân tích 4 câu đầu.
- Trong câu thơ dùng từ thuần Việt “đầu lòng...” nôm na mà kì diệu là tinh túy của tiếng mẹ đẻ.
- Bên cạnh những từ Hán “Tố Nga...” làm câu thơ trở lên sang trọng
 Cả 2 cách dùng từ làm toát lên tinh thần nhân văn của nhà thơ: yêu thương quý trọng con người.
Nhịp điệu 4/4, 3/3 ( Thúy Kiều là chi, em là Thúy Vân)
( Mai cốt cách tuyết tinh thần) góp phần giới thiệu vẻ đẹp ngang bằng của 2 chị em.
H/ả thơ được lựa chọn theo tinh thần ước lệ cổ điển “Mai cốt cách.... mười phân ven mười” hoa, tuyết ước lệ cho người phụ nữ đẹp.
“Mai cốt cách”: là cốt cách của mai: hình mảnh mai, sắc rực rỡ, hương quý phái.
“tuyết tinh thần”: là tuyết có tinh thần của tuyết: trắng trong, tinh khiết, thanh sạch
 2 vế đối nhau câu thơ trở nên tao nhã gợi cảm.
 âm điệu nhịp nhàng nhấn mạnh sự đối xứng làm nổi bột vẻ đẹp cân đối hoàn hảo.
* Sơ kết: Cái tài của Nguyễn Du là ở chỗ “mỗi người một vẻ...” – n/v trong t/p cũng như ngoài đời không ai giống ai điều này tạo nên những nét diện mạo, t/c riêng của từng n/v để làm nổi bật được vẻ đẹp riêng của từng người, ngòi bút của ND đã bộc lộ được tất cả sự tài hoa của nghệ thuật tả người mà đây là 1 đoạn điêu luyện của NT ấy.
4. Phân tích 16 câu tiếp theo
ND: vẻ đẹp của Thúy Vân và tài sắc của Thúy Kiều.
a, 4 câu tả Thúy Vân.
- H/s phác họa:
+ Khuôn mặt đầy đặn, cân đối phúc hậu, suối tóc óng như mây, điệu cười, giọng nói đoan trang, làn da sáng hơn tuyết
 T/g miêu tả Thúy Vân toàn vẹn, tinh tế từ khuôn mặt, nét mày, điệu cười giọng nói, mái tóc làn da.
* Dùng từ “xem” khéo léo giới thiệu trước một cách tế nhị thể hiện sự đánh giá chủ quan của người miêu tả, sắc đẹp của Thúy Vân là sắc đẹp tương đối
-Miêu tả Vân bằng những nétước lệ thích hợp Vân đang nảy nở, tươi thắm đoan trang mà hiền dịu, phúc hậu.
-Dùng h/ả ẩn dụ “khuôn trăng đầy đặn”, tiếp sau là hình ảnh nhân hóa “hoa cười, ngọc thốt” (thay vào cách nói so sánh “Vân cười tươi như hoa, nói trong như ngọc”. Tác giả nói “hoa cười ngọc thốt” nhân hóa ước lệ tượng trưng gây ấn tượng.
-Kì diệu hơn ND vừa miêu tả nhan sắc đã cho thấy ngay số phận nhân vật: “Mây thua..; tuyết nhường...” tạo hóa “thua” và “nhường” người đẹp này dễ sống lắm con người này sinh ra là để được hưởng hạnh phúc.
b, 12 câu tả Kiều
- Số lượng câu chứng tỏ N.Du dùng hết bút lực – lòng yêu mến vào nhân vật này. Lấy Vân làm nền để làm nổi bật Kiều, Vân xinh đẹp là thế nhưng Kiều còn đẹp hơn. Nếu Vân đẹp tươi thắm hiền dịu thì Thúy Kiều lại đẹp sắc sảo “nghiêng nước, nghiêng thành”
+ 4 câu tả Kiều: Trích dẫn
+ Nhận xét: Vẻ đẹp măn mà là vẻ đẹp chung của hai chị em, nhưng nét sắc sảo là của riêng Kiều “Kiều càng..”. Kiều đẹp tuyệt đối,
+ Phân tích: bằng ước lệ, t/g điểm xuyết một đôi nét dung nhan khiến T.Kiều hiên lên rạng rỡ :
+ “làn thu thủy”: đôi măt trong xanh như nước mùa thu gợi cảm mà huyền ảo.
+ “ nét xuân sơn”: nét mày thanh thản tươi xanh mơn mởn đẹp như dáng núi mùa xuân tươi trẻ.
Bình: không miêu tả nhiều nhưng tất cả đều hoàn mĩ, tập trung tả nét chân dung tiêu biêủ của một con người, là “gương” soi là “cửa sổ tâm hồn”. Đôi mắt, không chỉ mang vẻ đẹp bên ngoài mà ẩn chứa thế giới tâm hồn bên trong. Cách tả truyền thống (nét đậm nét nhạt, có chỗ tỉ mỉ, có chỗ chấm phá)
-Phân tích: phép tu từ nhân hóa, từ ngữ chọn lọc thái độ của thiên nhiên với Kiều. Với vẻ đẹp của Vân thiên nhiên chẳng đố kị mà chịu thua, chịu nhường còn với vẻ đẹp của Kiều “hoa ghen”, “ liễu hờn” đố kị.
-Tả vẻ đẹp lấy từ điển cố “nhất cố khuynh thành, tái cố khuynh quốc” (một lần quay lại tướng giữ thành mất thành, quay lại lần nữa nhà vua mất nước)
 tạo sự súc tích, có sức gợi lớn
* Tóm lại: Vẻ đẹp của Kiều gây ấn tượng mạnh – một trang tuyệt sắc.
Tài: + Không chỉ là giai nhân tuyệt thế mà Kiều còn có tài – rất đa tài
Sử dụng hơn 6 dòng thơ để giới thiệu tài năng của nàng
Giới thiệu chất thông minh, làm thơ, vẽ tranh, ca xướng, đánh đàn đều đến siêu luyện
+ Tài đánh đàn: thể hiện qua từ ngữ “làn , ăn đứt” những từ ngữ biểu thị giá trị tuyệt đối thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của mình đối với nhân vật Thúy Kiều Kiều thông minh và rất mực tài hoa.
+ Soạn nhạc: Soạn khúc: “bạc mệnh oán” Tâm hồn đa sầu, đa cảm, phong phú. khúc nhạc dự đoán cho số phận đau khổ, bất hạnh của Kiều sau này.
-So với đoạn tả Thúy Vân, chức năng dự báo còn phong phú hơn.
-Những câu thơ miêu tả nhan săc, tài năng dự đoán số phận thể hiện quan niệm “thiên mệnh” của nho gia, thuyết tài mệnh tương đố” của N.Du
-Tóm : - Kiều đẹp quá, tài hoa quá, hoàn hảo quá nên không thể tránh khỏi sự “hồng nhan bặc mệnh”.
- Nét tài hoa của ND bộc lộ rõ nét trong nghệ thuật tả người ở đoạn thơ.
- Bút pháp nghệ thuật có tính truyền thống của thơ văn cổ nhưng ông đã vượt lên được cái giới hạn đó. 16 câu tả vẻ đẹp cảu hai chị em Kiều gần như đầy đủ vẻ đẹp của người phụ nữ theo quan niệm xưa: công – dung – ngôn – hạnh. Tài ấy thể hiện cả ở tả tình, tâm hồn của nhân vật và dự báo số phận nhân vật
c, Đức hạnh và phong thái của hai chị em Kiều.
- Cuộc sống “êm đềm”, “phong lư” khuôn phép, đức hạnh mẫu mực.
- Tác dụng đoạn cuối: khép lại bức chân dung của hai nàng Kiều đồng thời khép lại toàn đoạn trích khiến nó thêm chặt chẽ với t/p, với số phận từng nhân vật. Vân êm ái, Kiều bạc mệnh
- Cách miêu tả - giới thiệu chính xác số phận từng nhân vật.
Cuối đoạn miêu tả vẫn trong sáng, đằm thắm như chở che bao bọc cho chị em Kiều – 2 bông hoa vẫn còn trong nhụy.
5. Tóm lại
- ND - Giới thiệu tài sắc hai chị em Thúy Kiều - là khúc tráng tuyệt trong truyện Kiều bất hủ của ND. Họ đều là tuyệt thế giai nhân: trẻ, ngây thơ, trong trắng, mõi ngời một vẻ hấp dẫn lạ lùng (Vân đẹp đoan trang, trang trọng, Kiều đẹp sắc sảo mặn mà). Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp chinh phục thiên thiên còn vẻ đẹp của Kiều là vẻ đẹp khiến thiên nhiên phải ghen hờn. Hay nhất là từ việc miêu tả nhân vật – 2 thiếu nữ - 2 vẻ đẹp riêng để rồi dự báo được 2 số phận riêng.
- NT:
+ Cách miêu tả khắc họa tính cách nhân vật của ND rất tinh tế (m.tả hai vẻ đẹp khác nhau – thấy rõ sự khác biệt)
+ Dùng thủ pháp cổ điển m.tả ớc lệ tượng trưng (mai..khuôn trăng..ngọc thốt..tuyết..hoa cười.)
+ Sử dụng điển cố ... nhưng mức độ cho từng nhân vật khác nhau, các chi tiết khác nhau
+ Sử dụng miêu tả khái quát cũng biến hóa, uyển chuyển tạo hứng thú với chân dung từng n/v
+ Nghệ thuật sử dụng ngôn từ độc đáo, đặc biệt là những từ có giá trị gợi tả cao.
Ngọc thốt – không là ngọc nói tả người con gái đoan trang ít nói
Nước tóc – không là màu mái tóc tả suối tóc óng mượt
Nét xuân sơn – Không là dáng xuân sơn tả nét thanh tú xanh như sắc mùa xuân
C. Kết bài
Đoạn trích là trác tuyệt trong Truyện Kiều bởi: Cái tài của N.Du thật đáng kính nể. Hơn thế là cái tình đáng trọng hơn
Mỗi chữ mỗi lời trong đoạn thơ đều ẩn chứa niềm thương yêu tôn quý con người.Tinh thần nhân văn cao quý khiến truyện Kiều trở nên bất tử.
Đề 4: Phân tích đoạn trích “Cảnh ngày xuân” của Nguyễn Du?
Giới thiệu về đoạn trích
-Đoạn trích gồm 18 câu thơ lục bát, trích trong phần một “Gặp gỡ và đính ước”. Đoạn trích là một bức tranh TN đẹp gợi tả về lễ hội mùa xuân trong sáng, tươi đẹp, đồng thời trong bức tranh ấy cũng cho thấy tâm trạng của chị em Kiều được bộc lộ trong chuyến du xuân ấy.
-Người viết trình bày một vài cẩm nhận chung về mùa xuân
Tìm hiểu đoạn trích qua các hình ảnh sau
a. Tìm hiểu hình ảnh mùa xuân trong 4 câu thơ đầu
-Hình ảnh con én đưa thoi (ẩn dụ), thời gian vào tháng 3 âm lịch (cuối mùa xuân) gợi cho người đọc có một cảm giác như thời gian trôi đi rất nhanh, làm cho lòng người như luyến tiếc cảnh đẹp của MX, luyến tiếc không khí lễ hội MX vui tươi, náo nhiệt.
-Hình ảnh bãi cỏ non xanh (sức sống), cành hoa lê trắng (tinh khiết) trên nền non xanh ấy gợi lên một sức sống tràn đầy. Bằng thủ pháp ẩn dụ cùng với sự kết hợp hài hoà giũa các gám màu với một không gian cao rộng, Nguyễn Du đã tạo ra một bức tranh TN về mùa xuân tươi đẹp tràn đầy sức sống.
b. Tìm hiểu không khí lễ hội và tâm trạng chị em Kiều trong 8 câu thơ tiếp (5-12)
Phải chăng Nguyễn Du là người am hiểu và trân trọng những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong cảnh du xuân ấy nhà thơ không thể không nhớ đến việc đi tảo mộ cho tổ tiên ông bà, đó là đạo l‎y “Uống nước nhớ nguồn”
Phân tích tâm trạng chị em Kiều và không khí lễ hội qua các cụm từ “nô nức” “yến anh”,“sắm sửa”, “dập dìu” để làm nổi một ngày lễ hội MX đông vui, nhộn nhịp, tâm trạng con người thị vui tươi, phấn khởi, hồ hởi.
Phân tích các cụm từ “Ngổn ngang gò đống”, “tro tiền giấy bay” để thấy một không gian im lặng, lạnh lẽo, tâm trạng con người cũng như chùng xuống, hình ảnh ấy như báo hiệu Kiều sắp gặp một điều gì đó sắp xẩy ra trong cuộc đời Kiều và đó chính là cuộc gặp gỡ Kiều- Đạm tiên, một con người:
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng.
c. Tìm hiểu không khí lễ hội và tâm trạng chị em Kiều trong 6 câu thơ cuối.
- Phân tích các từ láy “tà tà” (thời gian), “thơ thẩn”, “nao nao” (tâm trạng), “thanh thanh”, “nho nhỏ (cảnh vật)
Nếu như ở 8 câu thơ trên diễn tả một không khí lễ hội và tâm trạng con người vui tươi, hồ hởi thì 6 câu thơ cuối cảnh vật trở nên hiu quạnh, tâm trạng con người cũng trở nên buồn luyến tiếc khó tả.
Nhận định “Cảnh ngày xuân” là một bức tranh TN đẹp với lễ hội truyền thống đông vui, nhộn nhịp. Trong bức tranh ấy còn cho người đọc thấy được tâm trạng của chị em Kiều. Một tam tr ạng vui buồn khó tả.
II. Văn học hiện đại:
Câu 1. Trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải viết: Ta làm con chim hót - Ta làm một cành hoa. Kết thúc bài Viếng lăng Bác, Viễn Phương có viết: Mai về Miền Nam thương trào nước mắt - Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác.
Hai bài thơ của hai tác giả viết về đề tài khác nhau nhưng có chung chủ đề. Hãy chỉ ra tư tưởng chung đó.
Viết một đoạn văn khoảng 5 câu phát biểu cảm nghĩ về 1 trong hai đoạn thơ trên.
Gợi ý: * Khác nhau :
+ Thanh Hải viết về đề tài thiên nhiên đất nước và khát vọng hoà nhập dâng hiến cho cuộc đời.
+ Viễn Phương viết về đề tài lãnh tụ, thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành kính khi tác giả từ Miền nam vừa được giải phóng ra viếng lăng Bác.
-*Giống nhau :
+ Cả hai đoạn thơ đều thể hiện ước nguyện chân thành, tha thiết được hoà nhập, cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước, nhân dân Ước nguyện khiêm nhường, bình dị muốn được góp phần dù nhỏ bé vào cuộc đời chung.
+ Các nhà thơ đều dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên là biểu tượng thể hiện ước nguyện của mình.
b. HS chọn đoạn thơ để viết nhằm làm nổi bật thể thơ, giọng điệu thơ và ý tưởng thể hiện trong đoạn thơ.
- Đoạn thơ của Thanh Hải sử dụng thể thơ 5 chữ gần với các đ

Tài liệu đính kèm:

  • doctrong_tam_on_luyen_van_nghi_luan_9.doc