Tài liệu ôn học kỳ 2 môn Ngữ văn Lớp 9

docx 24 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 25/02/2026 Lượt xem 9Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu ôn học kỳ 2 môn Ngữ văn Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu ôn học kỳ 2 môn Ngữ văn Lớp 9
MÙA XUÂN NHO NHỎ
-Thanh Hải-
Câu 1. Hoàn cảnh sáng tác:
Tháng 11-1980 khi tác giả lâm trọng bênh, bài thơ ra đời không bao lâu trước khi tác giả mất. Mặc dù được sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt ấy nhưng Mùa xuân nho nhỏ vẫn toát lên niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và cả những ước nguyện được hòa nhập, dâng hiến của tác giả.
Câu 2. Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề “Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo độc đáo, mới mẻ, là biểu tượng cho những gì tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất của cuộc đời. Nhan đề là sự kết hợp giữa danh từ “mùa xuân” với tính từ “nho nhỏ” gợi về hình ảnh một mùa xuân hữu hình cụ thể. Qua nhan đề và nội dung bài thơ, ta thấy ước nguyện của nhà thơ là muốn làm một mùa xuân, nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường, chỉ là một “mùa xuân nho nhỏ” góp vào mùa xuân lớn của thiên nhiên, đất nước, của cuộc đời chung. Từ đó, nhan đề cũng thể hiện quan điểm về sự thống nhất giữa cái riêng với cái chung, giữa cái riêng với cái chung, cái cá nhân và cộng đồng. Đó chính là chủ đề, tư tưởng mà nhà thơ muốn gửi gắm qua bài thơ.
Câu 3. Chuyển đổi đại từ xưng hô
Trong phần đầu của bài thơ, tác giả dùng đại từ “tôi” nhưng sang phần sau, tác giả lại dùng đại từ “ta”. Đó là dụng ý nghệ thuật của chủ thể trữ tình, rất thích hợp với sự chuyển biến của cảm xúc và tư tưởng của bài thơ. Từ “tôi” trong câu “Tôi đưa tay tôi hứng” ở khổ thơ đầu vừa biểu hiện một cái “tôi” cụ thể rất riêng của nhà thơ vừa thẻ hiện sự nâng niu, trân trọng vẻ đẹp và sức sống của mùa xuân. Nếu thay bằng từ “ta” thì hoàn toàn không thích hợp với nội dung cảm xúc ấy. Còn trong phần sau, khi bày tỏ khát vọng được dâng hiến những giá trị tinh túy của đời mình cho cuộc đời chung thì đại từ “ta” lại tạo được sắc thái trang trọng, thiêng liêng của một lời nguyện ước. Hơn nữa, khát vọng ấy không chỉ của riêng nhà thơ mà cái “tôi” của tác giả đã nói thay cho nhiều cái “tôi” khác và hóa thân thành cái” ta” đồng điệu hợn với tâm hồn người đọc.
Câu 4. Hãy viết đoạn văn khoảng 10-12 câu để làm rõ cảm nhận của nhà thơ về mùa xuân của đất nước, của cách mạng qua đoạn thơ
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao.
 Khổ thơ là những cảm nhận của tác giả về mùa xuân của đất nước, của cách mạng được thể hiện qua hai hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”:
Hình ảnh dân tộc Việt Nam được kết tụ lại qua hình ảnh ẩn dụ “người cầm súng” và “người ra đồng” biểu trưng cho hai nhiệm vụ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và lao động để xây dựng đất nước. Ý thơ không mới nhưng hình ảnh tạo ra sức gợi cho câu thơ chính là điệp từ “lộc”, đây vừa là hình ảnh gợi về lộc non chồi biếc của mùa xuân vừa là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sức sống vươn lên trỗi dậy, sức phát triển mạnh mẽ, là thành quả, là hạnh phúc. Vì vậy, người cầm súng giắt lộc để ngụy trang mà như mang theo cả sức xuân vào trận địa còn người ra đồng như gieo mùa xuân trên nương mạ, những con người ngày đêm hăng say lao động và chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân tới khắp mọi miền trên đất nước để gặt hái mùa xuân lớn về cho dân tộc. “Người cần súng” và “người ra đồng” không chỉ làm nên mùa xuân cho đất nước mà họ còn tạo nên giai điệu cho bản hợp xướng mùa xuân với những nhịp điệu “hối hả”, “xôn xao”:
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao 
Tác giả lặp lại cấu trúc thơ qua điệp ngữ “Tất cả như” và sử dụng các tính từ láy “hối hả”, “xôn xao” cùng lối so sánh sánh trực tiếp đã diễn tả được không khí lên đường vừa khẩn trương vừa náo nức, làm tăng thêm cái sức xuân phơi phơi mãnh liệt trong mỗi con người và trong cả cộng đồng lớn là dân tộc.
Câu 5. Trình bày ấn tượng của em về đất nước qua bốn câu thơ
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
 Khố thơ là những suy ngẫm, tình cảm vừa xót thương vừa tự hào về đất nước của nhà thơ Thanh Hải. Bằng tình yêu sông núi, Thanh Hải đã có cái nhìn sâu sắc và tự hào về chiều dài lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc, đólà truyền thống anh hùng trong đánh giặc, cần cù trong lao động, là lòng nhân ái là khát vọng hòa bình thể hiện qua hình ảnh nhân hóa:
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Trong qua trình dựng nước và giữ nước ấy, dân tộc ta đã phải trải qua biết bao “vất vả”, “gian lao” nhưng với sức sống bền bỉ kiên định, đất nước vẫn mãi cứ ngời sáng tỏa rạng “đi lên phía trước” như một vì sao và mỗi mùa xuân đến lại như được tiếp thêm sức sống mới:
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
Bằng nghệ thuật so sánh và nhân hóa, hai câu thơ đã thể hiện một niềm tin sáng ngời, ngợi ca đất nước tráng lệ, trường tồn như ngôi sao tỏa sáng trên bầu trời, hợp với quy luật của thiên nhiên, lịch sử. Ngôi sao đất nước ấy cũng định hướng cho mỗi cuộc đời, như vẫy gọi, giục giã mọi người cống hiến. Ba tiếng “Cứ đi lên” ở đầu câu thơ như một lời khẳng định thể hiện ý chí quyết tâm, niềm tin sắt đá và khí thế hào hùng của dân tộc ta để xây dựng đất nước giàu mạnh.
Câu 6. Trình bày ước nguyện hòa nhập và dâng hiến chân thành tha thiết của tác giả đươc thể hiện trong đoạn thơ sau bằng đoạn văn từ 10-12 câu. Gạch chân dưới phép nối và phép lặp.
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
 Hai khổ thơ là những suy ngẫm và khát vọng được hòa nhập, dâng hiến một cách khiêm nhường, lặng lẽ của tác giả trước mùa xuân lớn của thiên nhiên đất nước, của cuộc đời chung.
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
Nhân vật trữ tình không còn là cái “tôi” cô đơn nhỏ bé nữa mà là “ta” đồng điệu hơn với tâm hồn người đọc và phải chăng “ta” ở đây cũng chính là tất cả mọi người đều muốn được hóa thân kì diệu vào tiếng chim hót trong giọng hót của muôn chim để dâng cho đời những tiếng ca vui, nguyện làm bông hoa trong hương sắc của muôn hoa và một “nốt trầm”- nốt nhạc thấp nhất- trong bản hòa tấu muôn điệu muôn lời của mùa xuân? Thanh Hải không muốn làm nốt nhạc cao vút trong bản hòa ca bay bổng mà chỉ làm “một nốt trầm” nhưng lại là “nốt trầm xao xuyến” lay động lòng người để hòa nhập vào bản hòa ca chung của dân tộc.
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyên
Ước nguyện đó không viễn cảnh xa vời, không ồn ào cao điệu mà thật khiêm nhường, bình dị, chân thành và đáng quý biết bao! Và ước nguyện ấy được kết đọng nhất trong khổ thơ cuối:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” trong câu thơ đầu tiên chính là một ẩn dụ nói về khát vọng, một lẽ sống dâng hiến cao đẹp và khiêm nhường. Mỗi người chỉ là “một mùa xuân nho nhỏ” thôi còn mùa xuân lớn thuộc về thiên nhiên đất nước và Thanh Hải cũng chỉ muốn làm “một mùa xuân nho nhỏ” hữu hạn để góp vào mùa xuân bao la vô hạn của cuộc dời chung một cách “lặng lẽ” âm thầm:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Các tính từ “nho nhỏ”, “lặng lẽ” cho thấy ước nguyện được dâng hiến một cách âm thầm sức lực và tài năng nhỏ bé của tác giả vào cái chung của thời đại thật giản dị, chân thành, đáng quý và đáng trọng!. Nghệ thuật điệp ngữ và hoán dụ trong hai câu thơ cuối thể hiện ước nguyện của nhà thơ là được cống hiến cho đất nước suốt cả cuộc đời, dù già dù trẻ, ước nguyện đó vượt qua cả thời gian và tuổi tác:
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Về nghệ thuật, giai điệu nhẹ nhàng, êm ái của những thanh bằng liên tiếp, những luyến láy điệp từ cứ dồn dập, ngân cao làm ta xao xuyến xúc động. Phải đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác, ta mới thấm thía được tình yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước của nhà thơ trước khi từ giã cuộc đời.
*Yêu cầu ngữ pháp: Phép nối: “Và”-câu 5; Phép lặp “Ước nguyện”
VIẾNG LĂNG BÁC
 -Viễn Phương-
Câu 1. Trong bài thơ, Viễn Phương nhiều lần nhắc đến hình ảnh cây tre
a.Chép chính xác những câu thơ có hình ảnh ấy.
Hình ảnh hàng tre được nhắc đến hai lần trong bài
 Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
 Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
 Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
Và 
 Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
b.Giải thích ngắn gọn ý nghĩa hình ảnh hàng tre được nhắc tới ở khổ đầu và khổ cuối trong bài thơ.
 Trong khổ thơ thứ nhất, hình ảnh hàng tre “bát ngát, xanh xanh, đứng thẳng hàng” bên lăng Bác được tác giả quan sát từ xa tới gần, là hình ảnh tả thực gợi về cây tre gần gũi, thân thuộc của làng quê đất nước Việt Nam trong sinh hoạt, lao động sản xuất và chiến đáu:
đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Hình ảnh ấy còn mang ý nghĩa ẩn dụ, biểu tượng cho sức sống bền bỉ, kiên cường và tinh thần bất khuất của con người, dân tộc Việt Nam trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Hình ảnh hàng tre lại một lần nữa được nhắc lại ở câu thơ cuối bài thơ đã bổ sung thêm cho hình tượng cây tre Việt Nam thêm một nét nghĩa mới: “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”. “Trung hiếu” là hai phẩm chất quan trọng của con người. Theo quan niệm dân gian, kẻ làm tôi phải trung với chủ, phận làm con phải hiếu với cha mẹ nhưng ngày nay lòng trung hiếu được biểu hiện trong những giá trị đạo đức mới có nghĩa rộng hơn đó là “trung với nước hiếu với dân”. Sự lặp lại ấy làm hoàn thiện hơn vẻ đẹp của cây tre-biểu tượng của con người, dân tộc Việt Nam,-đồng thời tao cho bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng, hình ảnh thơ được tô đậm hơn, gây ấn tượng sâu sắc và làm cho dòng cảm xúc được trọn vẹn.
Câu 2. Cho hai câu thơ sau:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
a.Hãy phân tích ý nghĩa hình ảnh “mặt trời” trong hai câu thơ trên.
 Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là mặt trời của tự nhiên, rực rỡ, vĩnh hằng, là nguồn sáng, nguồn sống của vạn vật; từ hình ảnh ấy nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh ẩn dụ vừa đẹp, vừa xúc động để ca ngợi sự trường tồn vĩ đại của Bác: “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”. Bác là mặt trời cách mạng, mặt trời không bao giờ tắt,mãi mãi soi đường đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. “Mặt trời trong lăng” ấy còn ở trạng thái cực điểm “rất đỏ” như tỏa ra vầng hào quang chói lọi nhất gợi về một trái tim đầy nhiệt huyết vì dân vì nước tràn đầy tình yêu thương vô bờ bến của Bác hay cũng có thể hiểu là tư tưởng cách mạng, lòng yêu nước nồng nàn của Người.
b.Chép hai câu thơ có hình ảnh “mặt trời” trong một bài thơ đã học ở chương trinh Ngữ văn 9 (Ghi tên tác phẩm và tác giả).
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ-Nguyễn Khoa Điểm)
Câu 3. Cho câu thơ sau: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng”
a.Chép bốn câu thơ nối tiếp để hoàn thành khổ thơ có bốn câu
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
b.Khái quát nội dung đoạn thơ vừa chép bằng một câu văn: 
 “Khổ thơ là tấm lòng thành kính, ngưỡng mộ ngợi ca về Bác và niềm xúc động trước dòng người vào lăng viếng Bác của nhà thơ.”
c.Lấy câu văn đó làm câu chủ đề hãy viết đoạn văn khoảng 10-12 câu nêu cảm nhận về đoạn thơ.
 Khổ thơ là tấm lòng thành kính, ngưỡng mộ ngợi ca về Bác và niềm xúc động trước dòng người vào lăng viếng Bác của nhà thơ.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Cảm xúc ấy được tạo nên từ cặp câu sóng đôi với những hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Hình ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là mặt trời của tự nhiên, rực rỡ, vĩnh hằng, là nguồn sáng, nguồn sống của vạn vật; từ hình ảnh ấy nhà thơ liên tưởng đến hình ảnh ẩn dụ vừa đẹp, vừa xúc động để ca ngợi sự trường tồn vĩ đại của Bác: “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”. Chi tiết đặc tả về màu sắc “rất đỏ” khiến hình ảnh thơ vừa đẹp vừa gây ấn tượng sâu sắc; “mặt trời rất đỏ” ấy như tỏa ra vầng hào quang chói lọi nhất gợi về một trái tim đầy nhiệt huyết vì dân vì nước tràn đầy tình yêu thương vô bờ bến của Bác, là tư tưởng cách mạng, lòng yêu nước nồng nàn của Người. Nếu mặt trời của tự nhiên mang lại ánh sáng, sự sống cho muôn loài thì Bác lại đem lại cuộc sống ấm no cho dân tộc Việt Nam, dẫn dắt dân tộc ta từ đêm trường nô lệ đến ánh sáng tự do, sưởi ấm biết bao cuộc đời giá lạnh. Hình ảnh dòng người đi trong nỗi xúc động bồi hồi, trong niềm tiếc thương kính cẩn nặng vào lăng viếng Bác cũng gợi lên niềm xúc động trong lòng tác giả:
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Nhịp thơ chậm, giọng thơ trầm lắng như từng bức chân của dòng người vào lăng viếng Bác; điệp từ “ngày ngày” cho thấy thời gian bất tận, dòng người bất tận và nỗi xót thương cũng bất tận. Hình ảnh ẩn dụ “kết tràng hoa” gợi liên tưởng về dòng người xếp thành hàng dài vào viếng Bác đi thành vòng tròn tạo thành tràng hoa lớn dâng lên Người. Còn “bảy mươi chín mùa xuân” là hình ảnh hoán dụ mang ý nghĩa tượng trưng về một con người bảy mươi chín tuổi: đã sống một cuộc đời đẹp như những mùa xuân và Bác chính là người đã làm nên những mùa xuân cho đất nước, cho dân tộc. Nhờ vậy cuộc đời mỗi chúng ta được nở hoa dưới ánh sáng của Bác, giờ đây những bông hoa tươi thắm ấy đang đến dâng lên Người những gì tốt đẹp nhất. Về nghệ thuật, nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng, cách lặp lại từ ngữ, cấu trục câu đã diễn tả được bước đi chầm chậm của dòng người vào lăng viếng Bác với lòng thành kính thiết tha.
Câu 4. Có nhận xét: “Khổ thơ là cảm xúc thành kính trang nghiêm của nhà thơ khi vào bên trong lăng và đứng trước di hài Bác.”
a.Hãy chép lại những câu thơ có nội dung tương ứng với nhận xét trên trong bài “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương. Giới thiệu ngắn gọn những hiểu biết về tác giả và bài thơ.
*Những câu thơ có nội dung tương ứng với nhận xét trên:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
*Giới thiệu về tác giả và bài thơ: Viễn Phương (1928-2005), tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê ở tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông hoạt động ở Nam Bộ, là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tích Hồ Chí Minh cũng vừa được khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ và được in trong tập thơ Như mây mùa xuân (1978). Về nội dung, bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người đối với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác. Về nghệ thuật, bài thơ có giọng điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm, ngôn ngữ bình dị mà cô đúc.
b.Triển khai nhận xét trên bằng đoạn văn 12 câu để làm sáng tỏ dòng cảm xúc của nhà thơ. Gạch dưới một câu ghép và một phép liên kết câu đã học (chỉ rõ phép liên kết)
Bài làm
 Khổ thơ là cảm xúc thành kính trang nghiêm của nhà thơ khi vào bên trong lăng và đứng trước di hài Bác.
Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng diu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Hai câu thơ đầu diễn tả thật xúc động về hình ảnh Bác Hồ “trong giấc ngủ bình yên”, thanh thản giữa “vầng trăng sáng dịu hiền” đồng thời cũng gợi lên không khí trang nghiêm, yên tĩnh trong lăng Người:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền”-ánh sáng dịu nhẹ trong lăng-vừa ca ngợi tâm hồn trong sáng, thanh cao vừa gợi sự liên tưởng thú vị về giấc ngủ của Bác, đó là giấc ngủ ban đêm bởi nhà thơ không muốn cảm nhận nó như một giấc ngủ vĩnh viễn giữa ban ngày. Lúc sinh thời, Người rất yêu và gắn bó với trăng nên những vần thơ của Người cũng luôn tràn đầy ánh trăng; trăng đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến trận và giờ đây trăng lại đến để ru giấc ngủ ngàn thu cho Người. Hai câu thơ tiếp theo, cảm xúc của nhà thơ như lắng xuống nhường chỗ cho nỗi đau xót không thể kìm nén trong lòng
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
“Trời xanh” cũng như “mặt trời” hay “vầng trăng”, đều là những hình ảnh của thiên nhiên vũ trụ kì vĩ, vĩnh hằng, là những ẩn dụ sâu xa gợi về sự cao cả, vĩ đại, trường tồn của Bác. Sự thực là Người đã ra đi, như đã hóa thân vào thiên nhiên đất trời nhưng sự nghiệp của Người là bất tử, nhà thơ thấy Bác còn mãi với non sông đất nước như trời xanh còn mãi với chúng ta: “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi”. Dù tin như vậy nhưng tác giả vẫn không thể không đau xót trước sự ra đi của Người, nỗi đau ấy được biểu hiện một cách cụ thể, trực tiếp: “Mà sao nghe nhói ở trong tim!”. Động từ “nhói” cho thấy đó là nỗi đau quặn thắt, đột ngột, tái tê trong sâu thẳm tâm hồn như thể hàng nghìn mũi kim đâm vào trái tim đang thổn thức, đau đớn của người con về muộn đứng bên di hài Cha. Cấu trúc thơ như một câu hỏi tu từ với những cụm từ “vẫn biết”, “mà sao” ở đầu câu tạo nên âm điệu trầm lắng như nhịp đập thổn thức của con tim và phải chăng đó cũng là nỗi đau của hàng triệu con tim Việt Nam? Đó là những rung cảm mãnh liệt, chân thành của nhà thơ khi vào trong lăng, đứng trước di hài Người.
Yêu cầu ngữ pháp: 
Câu ghép: câu 3
Phép thế: Bác-Người
Câu 5. “Bốn câu cuối là tâm trạng lưu luyến và ước nguyện chân thành tha thiết của nhà thơ khi rời lăng Bác”. Triển khai nhận xét trên bằng đoạn văn 12 câu theo cách tổng-phân-hợp. 
Bài làm
 Khổ thơ cuối cùng bài thơ là tâm trạng lưu luyện và ước nguyện chân thành tha thiết của nhà thơ khi rời lăng Bác:
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Thời gian được ở bên Bác đang dần qua, câu thơ “Mai về miền Nam thương trào nước mắt” như một lời từ biệt giản dị, tràn đầy niềm thương nhớ sâu lắng. Tính từ “thương” và động từ “trào” bộc lộ cảm xúc mãnh liệt chân thành, sự luyến tiếc bịn rịn không muốn rời xa nơi Bác yên nghỉ. Đó là tâm trạng của nhà thơ cũng như của muôn triệu con tim Việt Nam cùng chung một nhịp đập bởi được gần Bác , được bên Bác dù chỉ trong giây phút thôi cũng đủ để ta không bao giờ muốn rời xa vì Người ấm áp quá, rộng lớn quá, vĩ đạ quá! Tác giả đã bày tỏ ước nguyện thành kính của mình và cũng là mong ước chung của những ai đã hoặc chưa một lần gặp Bác, đó là muốn được hóa thân, hòa nhập vào cảnh vật bên lăng Người.
Muốn làm con chim hót quanh lăng bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
Tác giả “muốn làm chim hót”-âm thanh thiên nhiên đẹp đẽ trong lành, “muốn làm đóa hoa” tỏa hương thơm thanh cao nơi Bác yên nghỉ và “muốn làm cây tre trung hiếu” để canh giữ giấc ngủ bình yên cho Người. Điệp từ “muốn làm vừa biểu cảm trực tiếp vừa biểu cảm gián tiếp tâm trạng lưu luyến, ước nguyện tha thiết chân thành của tác giả. Bài thơ được khép lại một cách khéo léo với hình ảnh “cây tre trung hiếu” đã tạo được ấn tượng đậm nét làm cho dòng cảm xúc của nhà thơ được trọn vẹn, đồng thời tạo cho bài thơ kết cấu đầu cuối tương ứng. “Cây tre trung hiếu” là biểu tượng cho mỗi con người Việt Nam trung với Đảng hiếu với dân, “Muốn làm cây tre trung hiếu trốn này” như lời ước nguyện, lời hứa chân thành không chỉ của riêng nhà thơ mà còn là tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi trung thành với sự nghiệp cách mạng của Người. Về nghệ thuật, điệp ngữ “muốn làm” được điệp đi điệp lại ba lần kết hợp với những hình ảnh thơ hay đã tạo nên âm hưởng dồn dập, gợi tả cảm xúc thiết tha, nồng hậu của con người miền Nam ra viếng Bác cũng ước nguyện được sống đẹp hơn để xứng đáng với Người. Bốn câu thơ khép lại bài thơ đã thể hiện một cách sâu sắc và cảm động ước nguyện của nhà thơ trước khi rời lăng Bác, ước nguyện ấy cứ ngân vang như một bài ca tha thiết, bồi hồi”
SANG THU
-Hữu Thỉnh- 
Câu 1. Hoàn cảnh sáng tác: Mùa thu năm 1977
*Thể thơ: Ngũ ngôn
*Mạch cảm xúc: Bài thơ bắt đầu từ cảm xúc, tâm trạng bất ngờ, ngỡ ngàng của nhà thơ trước phát hiện mới về sự đổi thay của thiên nhi

Tài liệu đính kèm:

  • docxtai_lieu_on_hoc_ky_2_mon_ngu_van_lop_9.docx