Đề thi thử vào Lớp 10 THPT môn Ngữ văn - Năm học 2017-2018 - Phòng GD & ĐT Vĩnh Tường (Có đáp án)

docx 5 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 25/02/2026 Lượt xem 7Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử vào Lớp 10 THPT môn Ngữ văn - Năm học 2017-2018 - Phòng GD & ĐT Vĩnh Tường (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề thi thử vào Lớp 10 THPT môn Ngữ văn - Năm học 2017-2018 - Phòng GD & ĐT Vĩnh Tường (Có đáp án)
PHÒNG GD&ĐT
 VĨNH TƯỜNG
————
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 NĂM HỌC 2017 - 2018
MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề.
————————————
Câu 1 (2,0 điểm). 
	Đọc đoạn văn sau rồi trả lời câu hỏi:
 “Nhĩ thoáng chốc quên đi bệnh tật. Anh bị cuốn vào những câu nói bông đùa của Liên. Nhưng rồi, Liên đặt bàn tay vào sau phiến lưng đã có nhiều mảng thịt vừa chai cứng vừa lở loét của nhĩ. Thế là cái cảm giác mệt mỏi vì bệnh tật lại trở về với anh”.
Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Của ai?
Chỉ ra các phép liên kết câu trong đoạn trích trên?
Câu 2 (2,0 điểm).
	Viết một đoạn văn khoảng 10 đến 15 câu trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ “Có công mài sắt có ngày nên kim”.
Câu 3 (6,0 điểm).
Đánh giá về tập truyện “Truyền kì mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng: “Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng các thế lực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất, bất hạnh”.
 (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.49)
 Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua việc phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương”.
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm!
HƯỚNG DẪN CHẤM
 I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
	- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có tư duy khoa học, lập luận sắc sảo, có khả năng cảm thụ văn học và tính sáng tạo cao.
	- Sau khi chấm xong, điểm toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm.
II. Đáp án và thang điểm
Câu
Ý
 Nội dung trình bày
Điểm
1
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
 “ Nhĩ thoáng chốc quên đi bệnh tật. Anh bị cuốn vào những câu nói bông đùa của Liên. Nhưng rồi, Liên đặt bàn tay vào sau phiến lưng đã có nhiều mảng thịt vừa chai cứng vừa lở loét của nhĩ. Thế là cái cảm giác mệt mỏi vì bệnh tật lại trở về với anh”.
Đoạn văn được trích từ tác phẩm nào? Của ai?
Chỉ ra các phép liên kết trong đoạn trích trên?
2,0 
a. 
Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Của ai?
- Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm Bến quê của Nguyễn Minh Châu.
0,25
b.
Các phếp liên kết được sử dụng trong đoạn trích là:
Phép thế “anh” (câu 2,4) thay thế cho “ Nhĩ” (câu 1,3).
0,5
Phép nối: “ Nhưng rồi” nối câu 1 và 2; “ Thế là” nối câu 2 và 3
0,5
Phép lặp: “ bệnh tật” ( câu 1,4 )
Phép liên tưởng: “ bệnh tật”, “ nhiều mảng thịt vừa chai cứng vừa lở loét”.
0,25
0,5
2
Yêu cầu chung: Học sinh viết thành đoạn văn ngắn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý. ( nếu không đúng hình thức đoạn văn trừ 0,5 điểm)
Yêu cầu cụ thể: Đảm bảo các ý sau
2,0
a.
Giải thích câu tục ngữ:
- Hình ảnh sắt ,kim: Sắt: kích thước lớn, rất cứng, khó mài dũa; kim: kích thước bé nhỏ nhưng tiện dụng, dùng để may vá.
-Từ sắt nên kim là một quá trình mài dũa công phu.
=>Nội dung câu tục ngữ: Đức tính kiên trì, nhẫn nại là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công. Nếu không chăm chỉ, không bắt tay vào việc thì khó có thể thành công.
0,5
b
* Bàn luận :
- Câu tục ngữ là một lời khuyên đúng đắn cho mọi người.
Để “sắt” thành “kim” cũng cần ý tưởng rõ ràng, cần bàn tay khéo léo, cần kĩ thuật thành thạoBên cạnh đó sự kiên trì là yếu tố cần thiết để quyết định thành công. Trong thực tế cuộc sống, để làm được một công việc gì đó ngoài sự hiểu biết, kĩ năng làm việc thì lòng kiên trì là yếu tố cần thiết để thành công (dẫn chứng thực tế).
0,75
.* Rút ra bài học: 
- Để có được thành công, con người cần có ý chí,nghị lực, sự kiên nhẫn, bền bỉ. Đồng thời, câu tục ngữ còn khuyến khích mọi người lạc quan, hi vọng, tin tưởng vào khả năng và sự bền bỉ của mình.
- Biểu dương những tấm gương biết kiên trì, có nghị lực trong cuộc sống.
- Phê phán những con người không có lòng kiên trì, thiếu nghị lực sống
0,5
c
* Nêu Suy nghĩ bản thân từ lời dạy trên
0,25
3.
Đánh giá về tập truyện “ Truyền kì mạn lục” của tác giả Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng: “ Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình,hạnh phúc, nhưng các thế lực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất, bất hạnh.”
 (Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.49)
 Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua việc phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương”.
6,0
1
Mở bài: Vài nét về tác giả, tác phẩm 
0,25
2
 Thân bài (5.5đ)
Giải thích ý kiến
- “Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình, hạnh phúc”: Vẻ đẹp của các nhân vật nữ chính trong tập truyện “Truyền kì mạn lục” là vẻ đẹp của đức hạnh, của khát vọng có được cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Nhân vật Vũ Nương hội tụ những vẻ đẹp ấy.
- “Nhưng các thế lực bạo tàn và lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất bất hạnh”: Nhân vật nữ chính trong tập truyện “ Truyền kì mạn lục” thường có số phận bi kịch, và nguyên nhân gây nên bi kịch ấy là các thế lực bạo tàn và lễ giáo phong kiến.
b. Chứng minh 
0.5
4,5
* Vũ Nương là một người phụ nữ đức hạnh , khao khát một cuộc sống yên bình hạnh phúc:
2,5
- Ngay từ mở đầu tác phẩm,Vũ Nương được giới thiệu: “Tính đã thùy mị ,nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”
- Vẻ đẹp đức hạnh và khát vọng được sống bình yên, hạnh phúc của nàng được tỏa sáng trong cách ứng xử.
0,25
+ Với chồng, nàng là người vợ hiền thảo, thủy chung son sắt, trân trọng hạnh phúc gia đình.
Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa .
Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày trở về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Ước mong của nàng thật giản dị, điều đó cho thấy nàng mong muốn, coi trọng hạnh phúc gia đình mà xem thường mọi công danh phù phiếm.
Khi xa chồng ,Vũ Nương càng thương nhớ đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức. Nàng luôn ý thức giữ trọn tấm lòng thủy chung, son sắt: “ tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.
Trước cơn ghen của Trương Sinh, Vũ Nương cố gắng thanh minh, phân trần nói những lời đầy tình nghĩa để mong cứu vãn, hàn gắn hạnh phúc mà nàng vun đắp. Và cuối cùng nàng đã chết để bảo toàn danh dự.
 Trong những năm tháng sống ở thủy cung, dù sống trong nhung lụa nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi nhớ thương chồng con.
1,25
*
+Với mẹ chồng, nàng là người con dâu hiền thảo:
Chồng xa nhà, Vũ Nương đã thay chồng phụng dưỡng mẹ già chu đáo. Khi bà ốm, nàng hết lòng chăm sóc, lo thuốc thang lễ bái thần phật và nói những lời khôn khéo để mong bà vơi bớt nỗi nhớ thương con. Đến khi bà mất, nàng hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng như với cha mẹ đẻ của mình. Tấm lòng hiếu thảo của nàng đã được mẹ chồng ghi nhận và trân trọng, điều đó được thể hiện trong lời trăng trối của bà trước khi đi xa: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.
0,5
+ Nàng là người mẹ hết lòng yêu thương con:
Sinh con khi xa chồng, một mình Vũ Nương chăm lo cho bé Đản. Để phần nào bù đắp sự thiếu vắng hơi ấm tình cha, nàng đã chỉ bóng mình trên vách nhà và bảo đó là cha của con.
+ Đức hạnh của VN được cả họ hàng làng xóm công nhận. Khi Trương Sinh nghi ngờ sự chung thủy của nàng, mọi người đã bênh vực và biện bạch cho nàng.
0,5
-->VN là người phụ nữ đức hạnh, luôn khao khát một cuộc sống bình yên, hạnh phúc.
* Nhưng Vũ Nương lại phải chịu số phận oan khuất do các thế lực bạo tàn và lễ giáo phong kiến:
2.0
- Số phận bi kịch của Vũ Nương:
+ VN là người phụ nữ đức hạnh thủy chung nhưng lại bị chồng nghi ngờ, mắng nhiếc đánh đuổi. Ngọn lửa ghen tuông bùng lên trong lòng Trương Sinh chỉ từ lời nói của con về “ một người đàn ông đêm nào cũng đến”. Không suy sét lời con trẻ, không cho vợ biết nguyên cơ ghen tuông, Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương vào oan khuất làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
+ Không thể minh oan cho mình bằng những lời thanh minh, phân trần, Vũ Nương đành lấy cái chết để tự rửa sạch nỗi oan khiên.
+ Dù được cứu vớt và sống nhung lụa dưới thủy cung nhưng ngày đêm nàng vẫn nhớ thương chồng con chốn trần gian vẫn đau đớn vì “chẳng thể trở về chốn nhân gian được nữa”.
1.0
- Nguyên nhân gây nên bi kịch của Vũ Nương:
+ Nguyên nhân trực tiếp là lời nói thơ ngây của con và ngọn lửa ghen tuông của người chồng đa nghi, không có học. Nhưng ghen tuông của Trương Sinh không chỉ do bản tính của nhân vật mà còn được sự hậu thuẫn của chế độ nam quyền.
+ Lễ giáo phong kiến hà khắc đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa ghen tuông của Trương Sinh.
+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng mà Vũ Nương thổ lộ “Thiếp vốn con nhà kẻ khó được nương tựa nhà giàu” cũng là một lí do khiến TS có quyền kết tội bỏ mặc lời thanh minh của nàng,
+ Chiến tranhh phong kiến làm gia đình li tán, vợ chồng xa cách dẫn đến mối nghi ngờ trong lòng Trương Sinh.
àKhông phải chiếc bóng trên vách mà chính bóng đen trong tâm hồn Trương Sinh, chiến tranh phi nghĩa và lễ giáo hà khắc đã đẩy Vũ Nương tới tận cùng bi kịch.
1,0
c.
Đánh giá 
0,5
- Ý kiến trên là sự đánh giá chính xác về nhân vật nữ chính trong tập “Truyền kì mạn lục” nói chung và nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” nói riêng.
- Qua tác phẩm ta thấy được tấm lòng nhân đạo sâu sắc và tài năng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Dữ.
3.
Kết bài
Suy nghĩ bản thân
0,25

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_thi_thu_vao_lop_10_thpt_mon_ngu_van_nam_hoc_2017_2018_pho.docx