PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUỲNH PHỤ TRƯỜNG THCS QUỲNH NGUYÊN KỲ THI KHẢO SÁT VÀO LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2015-2016 Môn thi: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề PHẦN I: Đọc- hiểu (3 điểm) Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi: “ Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm (1). Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được ( 2). Ông kiểm điểm từng người trong óc (3). Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà (4). Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chể với giặc, có đời nào lậi cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...(5)” a) đoạn trích trên nằm trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? b) “ ông lão” trong đoạn trích trên là nhân vật nào? Điều “ nhục nhã” được nói đến là điều gì? c) trong đoạn trích trên, những câu văn nàp là lời trần thuật của tác giả, những câu văn nào là lời độc thoại nội tâm của nhân vật? Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật? Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0.5 điểm) Câu 2. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: "Em đứng bên đường như quê hương". (0.5 điểm) Câu 3. Hãy chỉ ra các hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Các hình ảnh đó tạo nên bức tranh rừng Trường Sơn như thế nào? (1.0 điểm) Câu 4. Hình ảnh "em gái tiền phương" được khắc họa như thế nào? (trình bày ngắn gọn từ một đến ba câu). (1.0 điểm) PHẦN II: Làm văn (7 điểm) Câu 1. (3,0 điểm) Viết 1 bài văn ngắn nêu suy nghĩ của em về tinh thần đoàn kết. a. Về kỹ năng - Biết cách viết một bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý. - Văn phong trong sáng, lập luận chặt chẽ, bày tỏ được quan điểm, suy nghĩ của cá nhân. b. Về nội dung Thí sinh có thể viết bài theo nhiều cách, dưới đây là một số định hướng gợi ý chấm bài: 1. Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận 2. Thân bài: * Giải thích: Đoàn kết là kết thành 1 khối thống nhất cùng nhau hoạt động vì 1 mục đích chung. Đó là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, thể hiện qua sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau bằng những hành động cụ thể, nhất là những khi gặp hoạn nạn, khó khăn. * Bàn luận: - Đoàn kết là một nhân tố hết sức cần thiết để dẫn đến sự thành công. Xã hội ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực thì tinh thần đoàn kết lại càng phải được giữ vững và phát huy. Đoàn kết không chỉ mang lại cho ta những kết quả tốt đẹp mà nó cũng đã trở thành sợi dây vô hình liên kết con người lại gần với nhau hơn, từ đó tạo nên những mỗi quan hệ xã hội tốt đẹp. - Trong thời kỳ kháng chiến và xây dựng đất nước, tinh thần đoàn kết của nhân dân đã góp phần đem lại hòa bình và xây dựng được những công trình to lớn cho đất nước ( nêu dẫn chứng ). - Phê phán: Đoàn kết với mọi người hay không là do chính ý thức của mỗi cá nhân. Phải đoàn kết thì chúng ta mới có thể tồn tại và phát triển. Nhưng đoàn kết cũng không có nghĩa là giúp người khác làm việc xấu hay che giấu những lỗi lầm của bạn. Mỗi người chúng ta cần nhận thức rõ về đoàn kết bởi vì nó chỉ mang lại một kết quả tốt đẹp khi ta có mục đích đúng đắn. Nhận thức sai lầm về tình đoàn kết sẽ hại người và đôi khi ta cũng đã vô tình hại chính bản thân. * Bài học nhận thức và hành động: Là một học sinh, chúng ta cần rèn luyện tinh thần đoàn kết và giúp đỡ nhau một cách đúng đắn trong học tập. Ngoài ra, mỗi người học sinh hãy tuyên truyền cho những người thân trong gia đình cũng như mọi người về tinh thần đoàn kết. Về phía nhà trường và các bậc phụ huynh, mỗi thầy cô và mỗi cha mẹ hãy giáo dục cho con em mình tình đoàn kết ngay từ lúc bé để sau này mỗi mầm xanh của đất nước sẽ nảy mầm và hình thành được một nhân cách tốt đẹp. 3. Kết bài: Khẳng định vấn đề. Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang sáng. a. Về kỹ năng - Biết cách viết một bài văn nghị luận về nhân vật - Văn phong trong sáng, có cảm xúc, lập luận chặt chẽ; bố cục mạch lạc; không mắc các lỗi chính tả, diễn đạt,... b. Về kiến thức 1. Mở bài: - Giới thiệu Nguyễn Quang Sáng và tác phẩm “Chiếc lược ngà”. - Nhận xét khái quát về nhâ vật bé Thu 2. Thân bài: * Giới thiệu được hoàn cảnh của bé Thu ( giới thiệu đôi nét cốt truyện và tình huống truyện để làm nổi bật tình cảm và tính cách của cô bé ) -> Tình thương cha và tính cách đầy ấn tượng của nhân vật bé Thu được khắc họa sinh động trong hoàn cảnh cảm động, éo le đó. * Tình cảm, thái độ, hành động của bé Thu trước khi nhận ra ông Sáu là cha. - Ngơ ngác, lạnh lùng, lẩn tránh, vô cùng sợ hãi, kêu thét lên gọi má. - Trong 3 ngày nghỉ phép, bé Thu xa lánh cha. + Nói trống khi gọi ba đi ăn cơm. + Nhất định không nhờ cha nhấc nồi, chắt nước. + Hất cái trứng cá ba gắp cho, khi bị cha đánh bỏ về bà ngoại, cố ý khua dây xích kêu rổn rảng để tỏ ý bất bình. => Ương ngạnh, không đáng trách vì Thu còn quá nhỏ để hiểu được những tình thế éo le, khắc nghiệt của chiến tranh càng minh chứng về tình yêu cha. * Tình cảm, thái độ, hành động của bé Thu khi nhận ra cha: Trong buổi sáng cuối cùng, trước phút ông Sáu phải lên đường, thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. - Cất tiếng gọi ba, ôm chặt lấy cổ ba, hôn lên mặt ba, hôn cả lên vết thẹo trên má ba nó... (Học sinh lấy dẫn chứng và phân tích để thấy được tình cảm mãnh liệt của bé Thu sau giây phút cất tiếng gọi ba.) - Trong đêm bỏ về nhà bà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. Sự nghi ngờ bấy lâu đã được giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận, hối tiếc “nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Vì thế, trong giờ phút chia tay, tình yêu và nỗi mong nhớ với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối hả, cuống quýt, có xen lẫn cả sự hối hận. *Qua biểu hiện tâm lý và thái độ, tình cảm, hành động của bé Thu, ta thấy đó là cô bé có tình cảm thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi. Ở Thu còn có nét cá tính là sự cứng cỏi đến mức tưởng như ương ngạnh, nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ. Hình ảnh bé Thu và tình yêu cha sâu sắc của Thu đã gây xúc động mạnh trong lòng người đọc, để lại những ấn tượng sâu sắc. *Nhà văn đã rất thành công trong việc xây dựng tình huống truyện và miêu tả tâm lý, xây dựng tính cách nhân vật, qua đó đã góp phần bộc lộ sâu sắc tình yêu cha của bé Thu. 3. Kết bài: - Khẳng định lại phẩm chất của bé Thu - Liên hệ bản thân. Câu 3: (4.0 điểm ): hân tích khổ thơ trong bài Thơ Bếp lửa Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen! Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng, Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa! Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ, Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm, Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi, Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui, Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ. Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa! Trong khổ thơ thứ sáu, điệp từ "nhóm" được nhắc đi nhắc lại tới bốn lần và mang những ý nghĩa khác nhau. Nó cứ bồi đắp cao dần những nét kì lạ và thiêng liêng của bếp lửa. Từ "nhóm" đầu tiên: "Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm" nhóm là động từ thể hiện một hành động làm cho lửa bén, cháy bén, cháy lên ngọn lửa và một bếp lửa hoàn toàn có thật có thể cảm nhận bằng mắt thường để xua tan đi cái giá ạnh của mùa đông khắc nghiệt để nấu chín thức ăn và đó là một bếp lửa rất bình dị có ở mọi gian bếp của làng quê Việt Nam. Thế nhưng từ "nhóm" trong câu thơ sau "Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi - Nhóm nồi xôi gạo gạo mới sẻ chung vui - Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ" thì từ nhóm lại mang ý nghĩa ẩn dụ. Có nghĩa là bà đã nhóm lên, đã khơi dậy niềm yêu thương, những kí ức đẹp, có giá trị trong cuộc đời mỗi con người. Bà đã truyền hơi ấm tình người, khơi dậy trong tâm hồn cháu tình yêu thương ruột thịt, tình cảm sẻ chia tình đoàn kết với hàng xóm láng giềng và rộng ra nữa là tình yêu quê hương đất nước. Và cũng chính từ hình ảnh bếp lửa, bà đã khơi dậy cả những kí ức, kỉ niệm tuổi thơ ấu trong cháu để cháu luôn nhớ về nó cũng có nghĩa là nhớ về cội nguồn, nhớ về đất nước quê hương, nhớ về dân tộc mình. Và như vậy hình ảnh bếp lửa đơn sơ gian dị đã mang ý nghĩa khái quát trở thành ngọn lửa trong trái tim - một ngọn lửa ẩn chứa niềm tin và sức sống của con người. *dẫn chuyển: Bài thơ là dòng hồi tưởng của đứa cháu xa quê, xa mái ấm yêu thương, nhớ về tổ quốc nhớ về bà.thơ của Bằng việt thường sâu sắc trong trẻo, nó trong trẻo bởi tâm hồn rất thơm tho lớn lên từ miền rơm rạ.Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn liền trong quá khứ như dòng sông, bến đò, cây đa. Đối với Bằng Việt, sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa. Để rồi từ hình ảnh giản dị thân thương ấy những kí ức tuổi thơ ào ạt trở về trong tâm hồn đứa cháu xa quê, xa bà xa đất nước. Cảm xuc dâng trào trong trái tim Bằng Việt lan sang cả người đọc khi nhà thơ bồi hồi nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ lúc lên 4 tuổi và suốt 8 năm dòng. Nhớ mùi khói bếp, nhớ những tháng năm đói mòn đói mỏi, nhớ âm thanh khắc khoải của tiếng chim tu hú trên những cánh đồng xa gọi về những câu chuyện bà kể, lời dạy bảo ân cần của bà. - Và trong dòng hồi tưởng ấy những tháng ngày chiến tranh, giặc tàn phá xóm làng cũng là dấu ấn không thể quên .Nhớ về những tháng ngày ấy , trong trái tim Bằng Việt vẫn Có một ý kiến đã khăng định răng “Một bài thơ hay”. Bài thơ bếp lửa của BV là một bài thơ như thế.
Tài liệu đính kèm: