Đề thi chọn học sinh giỏi môn Ngữ văn Lớp 9 - Sở GD & ĐT Vĩnh Phúc (Có đáp án)

doc 5 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 25/02/2026 Lượt xem 8Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn học sinh giỏi môn Ngữ văn Lớp 9 - Sở GD & ĐT Vĩnh Phúc (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề thi chọn học sinh giỏi môn Ngữ văn Lớp 9 - Sở GD & ĐT Vĩnh Phúc (Có đáp án)
Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc
————————
đề chính thức
Kỳ thi chọn hsg lớp 9 THCS năm học 2008 - 2009
Đề thi môn: NGữ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề
——————————
Câu 1 (2 điểm)
Kết thúc đoạn thơ Kiều gặp Kim Trọng, Nguyễn Du viết:
“Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.”
 (Truyện Kiều – Nguyễn Du – NXB Văn hoá 2002)
Cảm nhận của em về hai câu thơ cuối trong đoạn thơ trên.
Câu 2 (3 điểm)
	Tục ngữ có câu: “Thời gian là vàng”.
	Em hiểu câu tục ngữ trên như thế nào?
Câu 3 (5 điểm) 
Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về người nông dân trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp qua hai tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao và “Làng” của Kim Lân.
—Hết—
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ tên thí sinh ............................................................................Số báo danh .............
HƯỚNG DẪN CHẤM THI HSG LỚP 9 THCS NĂM HỌC 2008-2009
MễN NGỮ VĂN
Câu 1: ( 2 điểm)
Học sinh có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những ý kiến, cảm thụ riêng miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài. Cụ thể cần nêu được một số ý như sau :
- Đặc điểm nổi bật trong bút pháp tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều bao giờ cũng là tả cảnh để thể hiện tâm trạng. Cảnh trong thơ Nguyễn Du nói riêng và cảnh trong thơ trung đại nói chung là tâm cảnh. Nguyễn Du nói rất rõ điều đó trong hai câu thơ “ Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Vì thế qua hai câu thơ tả cảnh trong đoạn trích trên có thể thấy rõ tâm trạng nàng Kiều. 
- Có thể thấy cảnh trong hai câu cuối của đoạn thơ là một cảnh rất đẹp nhưng đượm buồn, một nỗi buồn man mác nhè nhẹ. Dòng nước trong veo và dáng liễu rủ dưới bóng chiều thướt tha bên cầu tạo nên một bức tranh đẹp. Nhưng chính dáng liễu và bóng chiều ấy cũng tạo nên nỗi buồn. Xưa nay, bóng liễu rủ và bóng chiều hoàng hôn luôn là biểu tượng của nỗi buồn và sự nhớ nhung. 
- Cảnh trong hai câu thơ cuối trong đoạn thơ là cảnh đã được nhìn qua tâm trạng bâng khuâng, một tâm trạng vừa vui mừng, xôn xao vì gặp được người hào hoa, phong nhã, lịch thiệp... vừa buồn vì phải chia tay, chia xa, đúng là “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” (Xuân Diệu). Điều này là hết sức chính xác, vì đó là buổi đầu tiên Kim – Kiều gặp mặt, chia tay mở đầu cho mối tình 15 năm năm lưu lạc. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ tinh diệu (tơ liễu, trong veo, thướt tha )
* Thang điểm :
- Cho 2 điểm khi : Đảm bảo được những yêu cầu nêu trên .
- Cho 1 điểm khi : Thể hiện được 1/2 yêu cầu của nội dung, bố cục bài viết chưa thật chặt chẽ, mạch lạc.
- Cho 0 điểm khi : Học sinh không hiểu đề, sai lạc cả nội dung và hình thức..
Câu 2: ( 3 điểm)
A/ Về kỹ năng:
Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài nghị luận xã hội, bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí, diễn đạt tốt; không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
	B/ Về nội dung :
	Học sinh có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau đôi chỗ có thể có những cảm nhận riêng nhưng phải hiểu đúng ý, tránh suy diễn tuỳ tiện và có sức thuyết phục người đọc. Đại ý:
Giải thích:
- Thời gian là khái niệm chỉ sự chuyển động của vật chất;
- Vàng là kim loại quí hiếm rất có giá trị; 
So sánh thời gian là vàng để làm rõ giá trị của thời gian. Thời gian của vũ trụ là thời gian vô cùng vô tận, nhưng thời gian với cá nhân mỗi con người lại hữu hạn, ngắn ngủi (Thời gian trôi qua là thời gian mãi ra đi không trở lại, không lấy lại được) nên người đời thường tiếc thời gian, ví thời gian cuộc đời như “bóng câu qua cửa ”, “thời gian là vàng”...
2. Phân tích- Bình luận:
- Vàng (kim loại Vàng) dù quí nhưng người ta có thể mua, trao đổi để có được thứ kim loại quí này (có thị trường và có thể mua bán được) nhưng thời gian thì không có gì mua được. Thời gian quí giá vô cùng (vô giá).
- Thời gian là sự sống cho mỗi con người, mỗi sinh vật, thời gian sống một đi không trở lại (giới hạn). Không biết quí trọng thời gian, con người sẽ hối tiếc. 
- Thời gian là quí giá với tất cả mọi người, trong mọi lĩnh vực đời sống, nghề nghiệp  
- Thời gian là hiểu biết, là vốn sống được tích luỹ, mở rộng theo ngày tháng và sự chuyên cần. 
- Thời gian quí giá hơn mọi thứ nên mỗi người (đặc biệt là học sinh đang học tập ở nhà trường) phải quí trọng thời gian. Biết sử dụng thời gian hợp lý, tận dụng thời gian sẽ làm được nhiều điều có ích cho bản thân và xã hội (học sinh có thể dùng dẫn chứng để minh họa).
3/ Thang điểm :
- Cho 3 điểm khi : Đảm bảo được những yêu cầu nêu trên .
- Cho 1,5 điểm khi : Thể hiện được 1/2 yêu cầu của nội dung, bố cục bài viết chưa thật chặt chẽ, mạch lạc.
- Cho 0 điểm khi : Học sinh không hiểu đề, sai lạc cả nội dung và hình thức..
Câu 3: (5 điểm)
A/ Về kỹ năng:
Hiểu đúng yêu cầu của đề bài. Biết cách làm bài nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí, diễn đạt tốt; không mắc các lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
	B/ Về nội dung :
	Học sinh có thể sắp xếp trình bày theo nhiều cách khác nhau đôi chỗ có thể có những cảm nhận riêng miễn là phải bám sát các tác phẩm, tránh suy diễn tuỳ tiện và có sức thuyết phục người đọc. Đại ý cần làm nổi bật được: Thông qua so sánh hai nhân vật Lão Hạc (Lão Hạc- Nam Cao) và ông Hai (Làng – KIm Lân) trình bày được suy nghĩ về hình ảnh người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, họ có những vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam và có những nét riêng của từng thời kỳ lịch sử. Cụ thể:
	1 Vẻ đẹp chung của người nông dân Việt Nam:
	+ Cần cù chịu khó, một đời chăm lo làm ăn.
	- Lão Hạc: Khi còn sức lực thì cày thuê , cuốc mướn, khi già yếu vẫn đem chút hơi tàn còn lại để kiếm sống “ Lão làm thuê kiếm ăn.. .cũng có được hơn trăm đồng bạc”.
	- Ông Hai phải xa làng chợ Dầu đi tản cư, vẫn hăng hái lao động “ ông hì hục vỡ một vạt đất nằm ngoài bờ sắn... những tháng đói sang năm”.
	+ Có lòng nhân ái cao cả, có phẩm chất, lương tâm trong sạch:
	- Lão Hạc yêu thương con, vì nghèo không có tiền mà con trai lão không lấy được vợ, phải bỏ nhà, bỏ quê đi làm ăn xa. Lão luôn lo cho con, để dành tiền cho con, dù đau ốm, khó khăn thiếu thốn đến mức nhịn ăn nhưng quyết không tiêu vào tiền hoa lợi từ mảnh vườn để dành cho con.
	 Yêu thương cậu Vàng (con chó) như đứa con đặc biệt của mình. Lão là người nghèo khổ nhưng tự trọng: Gửi tiền ông giáo lo hậu sự cho mình để lúc nằm xuống khỏi phải phiền lụy đến dân làng. Lão thà chết để giữ trọn 3 sào vườn cho con trai. 
	- Ông Hai cũng là người yêu thương con, yêu thương làng chợ Dầu “ hai bố con nằm bên nhau... vỗ nhẹ lên lưng nó..”. Ông buồn đau khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây “Làng thì yêu thât... phải thù”.
	2. Vẻ đẹp riêng của từng giai đoạn lịch sử:
	+ Lão Hạc sống trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám. Cuộc đời lão từ khi vợ chết, chịu nhiều cơ cực, đau khổ. Là người nông dân nghèo, một mình nuôi con. Cái nghèo đói làm cuộc đời lão càng thêm tăm tối, bất hạnh. Lão ân hận khổ sở vì không có tiền cho con lấy vợ. Lão lo tiền cho con, lo tiền làm ma cho mình lúc chết hơn là lo cho cuộc sống hàng ngày của mình. Lão chọn đến cái chết, một cái chết đau đớn, vật vã về thể xác (ăn bả chó tự tử) để giữ lương tâm và phẩm giá trong sạch của mình.
+ Ông Hai nghèo khổ trong kháng chiến chống Pháp . Cách mạng đã đem đến cho ông sự suy nghĩ và hành động mới. Được sống trong tự do, đựoc làm chủ, thoát khỏi sự áp bức nặng nề của chế độ thực dân phong kiến. Ông hể hả, vui mừng tự tin và hiểu rõ trách nhiệm của mình trước làng xóm, trước cách mạng. Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, một người nông dân thuần khiết như bao người nông dân Việt Nam khác mang trong mình tình yêu làng quê thật giản dị mà sâu sắc. Ông thường hay nói về nó, kể về nó với một tâm trạng háo hức say mê : “một ngôi làng với phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa , rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh cáo bằng ngọn tre, nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh, đường làng lát toàn đá xanh, cái sinh phần to đẹp của viên tổng đốc làng mình... và tự hào hơn bao giờ hết là làng ông đã theo kháng chiến những ngày đánh Tây gian khổ mà vui. Đó là cái làng mà cả giới phụ lão cũng vác gậy đi tập một hai trong những ngày khởi nghĩa dồn dập, cái làng với nhiều ụ, nhiều giao thông hào chuẩn bị cho kháng chiến ...” Và khi phải đi tản cư rồi, ông vẫn bồi hồi không yên, luôn lắng nghe tin tức ở cái làng thân yêu của mình trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ông đã xấu hổ, đau xót, căm giận khi nghe tin làng mình theo Tây “ cổ ông nghẹn đắng” “ nước mắt trào ra”.... Và ông cũng thật hả hê, vui mừng, đi khoe khi được tin cải chính làng ông không theo Tây, làng ông bị tàn phá, nhà ông bị đốt. Nhưng đó là sự hi sinh mất mát đầy tự hào, mãn nguyện vì đó là làng kháng chiến, làng yêu nước. Ông vui mừng hả hê khi hiểu rõ sự tình... Hình ảnh một người nông dân gắn bó với quê hương, yêu làng, yêu cuộc sống, yêu nước, yêu Cụ Hồ và hăng hái kháng chiến...
	* Người nông dân Việt Nam ở hai thời kỳ đều mang những nét đẹp đặc trưng tiêu biểu cho truyền thống nông dân Việt Nam. Đó là phẩm chất cần cù chịu khó, chăm chỉ lương thiện và giàu lòng nhân ái. Yêu nước, yêu quê hương (làng mình, mảnh vườn...). Cả hai nhân vật ông Hai và lão Hạc đều là những nông dân nghèo, chưa có nhận thức đầy đủ về giai cấp trước Cách mạng. Sau Cách mạng, trong kháng chiến chống Pháp, người nông dân dưới ánh sáng Cách mạng đã tin và đi theo Đảng, theo Cách mạng, tham gia kháng chiến . Vẻ đẹp ấy càng đẹp hơn bao giờ hết là tình yêu làng, yêu nước gắn với cách mạng và kháng chiến, không thoả hiệp với kẻ thù, không đội trời chung với kẻ thù là Việt gian và bọn Tây xâm lược.
3/ Thang điểm:
	Điểm 5 : Đáp ứng được những yêu cầu nêu trên, văn viết có cảm xúc, dẫn chứng chọn lọc phong phú, diễn đạt trong sáng. Có thể còn có một vài sai sót nhỏ.
	Điểm 4 : Cơ bản đáp ứng được những yêu cầu nêu trên , dẫn chứng chưa thật phong phú nhưng phải làm nổi bật được trọng tâm, diễn đạt tương đối tốt. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
	Điểm 2.5 : Đáp ứng được khoảng 1/2 yêu cầu nêu trên , dẫn chứng chưa thật đầy đủ , phong phú nhưng làm rõ được các ý , diễn đạt có thể chưa hay nhưng thoát ý, dễ hiểu. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
Điểm 1-2 : Chưa nắm được nội dung yêu cầu của đề bài, hầu như chỉ bàn luận chung chung hoặc hiểu không đúng tinh thần của đề bài, dẫn chứng nghèo nàn, phân tích còn nhiều hạn chế. Bố cục lộn xộn , mắc nhiều lỗi diễn đạt, dùng từ , ngữ pháp.
	Điểm 0 : Không hiểu đề , sai lạc cả về nội dung và phương pháp.
	Trên đây là một vài gợi ý về thang mức điểm, Các giám khảo cân nhắc từng trường hợp cụ thể để cho điểm phù hợp.
	Lưu ý chung: Điểm của bài thi là tổng điểm của các câu cộng lại; cho từ điểm 0 đến điểm 10 . Điểm lẻ làm tròn tính đến 0,5 .
—Hết—

Tài liệu đính kèm:

  • docde_thi_chon_hoc_sinh_gioi_mon_ngu_van_lop_9_so_gd_dt_vinh_ph.doc