Đề thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh môn Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2014-2015 - Sở GD & ĐT Phú Thọ (Có đáp án)

doc 4 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 26/02/2026 Lượt xem 1Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh môn Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2014-2015 - Sở GD & ĐT Phú Thọ (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh môn Ngữ văn Lớp 9 - Năm học 2014-2015 - Sở GD & ĐT Phú Thọ (Có đáp án)
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÚ THỌ
ĐỀ CHÍNH THỨC
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2014- 2015
MÔN: NGỮ VĂN - THCS
Thời gian làm bài: 150 phút, không kể thời gian giao đề
(Đề thi có: 01 trang)
Câu 1 (3,0 điểm)
 	 Phát hiện và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ trong những câu văn sau: 
	 “Con đường nhựa ban đêm, sau cơn mưa mùa hạ rộng ra, dài ra, lấp loáng ánh đèn trông như một con sông nước đen. Những ngọn điện trên quảng trường lung linh như những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích nói về những xứ sở thần tiên”
 (Trích Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê)
Câu 2 (5,0 điểm)
...Biển cho ta cá như lòng mẹ
 Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
 (Trích Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)
Từ hai câu thơ trên, em hãy viết bài văn với nhan đề Biển như lòng mẹ.
Câu 3 (12,0 điểm)
	 Trong bài Tiếng nói của văn nghệ, Nguyễn Đình Thi viết:
“Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng.”
Qua bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
 HẾT
Họ và tên thí sinh: Số báo danh: ..................
 Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
PHÚ THỌ
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH
NĂM HỌC 2014 - 2015
 HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI CHÍNH THỨC
MÔN: NGỮ VĂN - THCS
(Hướng dẫn chấm gồm có 03 trang)
Câu 1 (3,0 điểm)
Cần trình bày được các ý sau: 
- Đoạn văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh: như một con sông nước đen; như những ngôi sao trong câu chuyện cổ tích.
- Hiệu quả:
+ Hình ảnh con đường hiện lên sinh động, mềm mại.
+ Cảnh vật vừa rực rỡ vừa hư ảo, xa xăm.
=> Hình ảnh so sánh diễn tả tâm hồn con người trong sáng, mộng mơ, giàu tình yêu quê hương đất nước.
Câu 2 (5,0 điểm)
* Yêu cầu về kỹ năng
- Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội.
- Văn phong trong sáng, ngôn từ chọn lọc, lập luận sắc sảo, chặt chẽ.
* Yêu cầu về kiến thức
 Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, song cần đảm bảo các yêu cầu sau: 
Đặt nhan đề cho bài viết (0,5 điểm)
Cảm nhận về ý thơ (1,0 điểm)
- Ca ngợi vẻ đẹp và sự giàu có của biển.
- Niềm tự hào, biết ơn với biển.
Suy nghĩ của bản thân (3,5 điểm)
- Vị trí, vai trò của biển đối với cuộc sống của con người.
- Tình cảm, ý thức, trách nhiệm của con người đối với biển đảo quê hương.
Câu 3 (12,0 điểm) 	
* Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm một bài nghị luận văn học; thao tác tổng hợp tốt, bố cục rõ ràng chặt chẽ; hành văn trôi chảy, mạch lạc, có cảm xúc; chữ viết rõ ràng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.
* Yêu cầu về kiến thức
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng bài viết cần đáp ứng các yêu cầu sau:
1. Giải thích nhận định (3,0 điểm)
- Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm. Tác phẩm nghệ thuật là nơi kí thác, gửi gắm tình cảm, tâm tư, chiêm nghiệm của người nghệ sĩ.
- Tác phẩmvừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng: Tác phẩm lay động cảm xúc, đi vào nhận thức, tâm hồn con người cũng qua con đường tình cảm. Người đọc như được sống cùng cuộc sống mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm với những yêu ghét, buồn vui.
=> Nhận định nêu lên giá trị, chức năng của tác phẩm văn học.
2. Chứng minh qua bài thơ Ánh trăng (7,0 điểm)
- “Ánh trăng” là lời tâm sự thiết tha sâu lắng, chân thành:
+ Trăng là người bạn tri kỉ, gắn bó sâu nặng với con người từ thuở ấu thơ và cả những năm tháng gian khổ của chiến tranh. Con người nhủ với lòng mình chung thủy, sắt son với trăng “ngỡ không bao giờ quên”.
+ Khi chiến tranh lùi xa, người lính trở về với cuộc sống hòa bình, người bạn chung tình thuở trước đã trở thành “người dưng qua đường”. Con người đã lãng quên vầng trăng.
+ Trong khoảnh khắc cuộc sống hiện đại biến mất, thành phố mất điện, ánh trăng lại hiện ra. Con người gặp lại ánh trăng tình nghĩa, không hao khuyết, vẫn như thuở nào. Cuộc gặp gỡ bất ngờ mà kỳ diệu, vầng trăng đánh thức những kỷ niệm xưa, trăng khắc nhớ về: quá khứ xa và gần, đất nước và quê hương, thiên nhiên và cuộc sống đối diện với trăng là đối diện với những phần đời đẹp nhất.
- “Ánh trăng” là lời tự nhủ và nhắn gửi về thái độ sống tri ân, nghĩa tình cùng quá khứ:
+ Trăng vẫn chiếu sáng “tròn vành vạnh”, dẫu cho “người vô tình”. Cái tròn đầy, im lặng của trăng là biểu tượng cho nghĩa tình thủy chung, sự bao dung độ lượng và thái độ nghiêm khắc, làm con người trăn trở, suy ngẫm, nhận ra sự vô tình, bội bạc của mình. Đó là sự bừng tỉnh của nhân cách, trở về với lương tâm trong sạch tốt đẹp.
+ Ánh trăng còn nhắc nhở người đọc thái độ sống thủy chung, ân nghĩa. Nó không chỉ là chuyện của một người, một thế hệ mà là chuyện của nhiều người, nhiều thế hệ. Nó có ý nghĩa cảnh tỉnh, gợi cho mọi người sống đẹp xứng đáng với những người đã khuất, với chính mình, trân trọng quá khứ để vững bước tới tương lai. Bài thơ nói chuyện trăng để nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa.
3. Đánh giá chung (2,0 điểm)
- Với giọng điệu tâm tình tự nhiên, hình ảnh giàu tính biểu cảm, bài thơ gợi nhắc về lối sống đẹp, ân nghĩa, thủy chung.
- Ý kiến của Nguyễn Đình Thi có ý nghĩa với cả người sáng tác và bạn đọc.
* Lưu ý:
 - Giám khảo vận dụng linh hoạt khi chấm để đánh giá đúng bài làm của thí sinh.
 - Khuyến khích những bài viết sáng tạo.
 - Điểm toàn bài cho lẻ đến 0,25.
 - Điểm toàn bài là tổng điểm đã chấm, không làm tròn.
 HẾT

Tài liệu đính kèm:

  • docde_thi_chon_hoc_sinh_gioi_cap_tinh_mon_ngu_van_lop_9_nam_hoc.doc