Đề thi chọn học sinh giỏi cấp huyện môn Ngữ văn Lớp 8 - Năm học 2015-2016 - Phòng GD & ĐT Cẩm Khê (Có đáp án)

doc 5 trang Người đăng duyenlinhkn2 Ngày đăng 22/02/2026 Lượt xem 12Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi chọn học sinh giỏi cấp huyện môn Ngữ văn Lớp 8 - Năm học 2015-2016 - Phòng GD & ĐT Cẩm Khê (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề thi chọn học sinh giỏi cấp huyện môn Ngữ văn Lớp 8 - Năm học 2015-2016 - Phòng GD & ĐT Cẩm Khê (Có đáp án)
PHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO CẨM KHÊ
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 8 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2015-2016
MÔN NGỮ VĂN
Thời gian 120 phút ( Không kể thời gian giao đề )
ĐỀ BÀI
 Câu 1. (8.0 điểm): Đọc câu chuyện sau:
Đọc câu chuyện sau:
 Vết nứt và con kiến
	“Có một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng. Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần. Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó dừng lại giây lát, đặt chiếc lá ngang qua vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia con kiến lại tiếp tục tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình”. 
(Theo Hạt giống tâm hồn - Ý nghĩa cuộc sống)
Trình bày suy nghĩ của em về câu chuyện trên bằng một bài văn ngắn không quá một trang rưỡi giấy thi.
Câu 2 . ( 12,0 điểm ) : Đọc thơ Bác, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết :
" Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình".
	Em hiểu thế nào về chất thép, chất tình trong đoạn thơ trên? Bằng hai bài thơ "Ngắm trăng", "Đi đường" trích trong tập "Nhật kí trong tù" của Hồ Chí Minh (Sách Ngữ Văn lớp 8 - Tập 2) em hãy làm sáng tỏ vấn đề đó.
 ..Hết .........
 Họ và tên thí sinh :Số báo danh :.
PHÒNG GIÁO DỤC& ĐÀO TẠO CẨM KHÊ
HƯỚNG DẪN CHẤM THI
CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 8 CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2015-2016
MÔN NGỮ VĂN
Câu 1. (8.0 điểm) : 
*Yêu cầu chung:
- Kiểm tra năng lực viết bài nghị luận về một vấn đề xã hội, đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống và kĩ năng tạo lập văn bản để làm bài.
- Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng, có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
*Yêu cầu cụ thể:
 	Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách nhưng cần làm rõ được các yêu cầu cơ bản sau:
1. Giới thiệu vấn đề nghị luận: (0,5 điểm) : Cuộc sống luôn có những khó khăn, trở ngại, thách thức. Con người cần phải biết biến những điều đó thành hành trang quý giá cho ngày mai như câu chuyện trên.
2. Phân tích, bàn luận vấn đề:(7.0 điểm) 
* Ý nghĩa câu chuyện (1.0 điểm) 
- Chiếc lá và vết nứt: Biểu tượng cho những khó khăn, vất vả, trở ngại, những biến cố có thể xảy ra đến với con người bất kì lúc nào.
- Con kiến đặt ngang chiếc lá qua vết nứt, rồi vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá...: biểu tượng cho con người biết chấp nhận thử thách, kiên trì, sáng tạo, dũng cảm vượt qua bằng chính khả năng của mình. 
-> Câu chuyện ngắn gọn nhưng hàm chứa ý nghĩa lớn lao về cuộc sống. Con người cần phải có ý chí, nghị lực, thông minh, sáng tạo, đối mặt với khó khăn gian khổ, dũng cảm, vươn lên bằng nghị lực và niềm tin.
* Bàn luận(5.0 điểm) 
- Khẳng định câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc đối với mỗi người trong cuộc đời.(2,5 điểm):
+ Những khó khăn, trở ngại vẫn thường xảy ra trong cuộc sống, Vì vậy mỗi người cần phải dũng cảm đối mặt, chấp nhận thử thách để đứng vững, cần bình tĩnh, linh hoạt, nhạy bén tìm ra hướng giải quyết tốt nhất.(Dẫn chứng thực tế: Anh Nguyễn Ngọc Kí, Những học sinh nghèo vượt khó, những anh thương binh tàn nhưng không phế, nhân dân Việt Nam chống kẻ thù xâm lược... )
- Phê phán thái độ sống chưa tích cực (2,5 điểm):
+ Không phải bất cứ ai cũng có thái độ tích cực để vượt qua sóng gió cuộc đời. Có người bi quan, chán nản, than vãn, buông xuôi; có người ỷ lại, hèn nhát, chấp nhận, đầu hàng, đổ lỗi cho số phận.... cho dù những khó khăn ấy chưa phải là tất cả (Dẫn chứng: Học sinh học kém lại hay nghịch ...nhà nghèo lại tự ti... làm việc thất bại lần đầu đã nhụt chí...)
* Khẳng định vấn đề và rút ra bài học cuộc sống (1.0 điểm) 
- Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, khó khăn, thử thách đến bất cứ lúc nào. Đó là quy tất yếu của cuộc sống mà con người phải đối mặt.
- Phải có ý thức sống , vượt khó và phấn đấu để tạo nên thành quả cho cuộc đời.
* Kết luận(0,5 điểm) : Khái quát vấn đề và liên hệ bản thân.
 Câu 2: (12,0 điểm) :
a. Yêu cầu chung:
- Kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học, đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác giả, tác phẩm và kĩ năng tạo lập văn bản để làm bài.
- Thí sinh có thể hiểu và trình bày theo những cách khác nhau, nhưng phải rõ hệ thống luận điểm, có lí lẽ , dẫn chứng cụ thể , hợp lí, lời văn trong sáng thuyết phục, ít mắc lỗi.
b.Yêu cầu cụ thể:
 *Giới thiệu vấn đề nghị luận, trích dẫn (0,5 điểm) :
 *Khái quát: Hoàn cảnh sáng tác, phong cách thơ Hồ Chí Minh...(0,5 điểm) 
 * Giải thích:(0,5 điểm) 
- Thép: là hợp kim vừa có độ bền, độ cứng và độ dẻo. Tinh thần "thép", chất “thép” trong thơ Bác là sự vượt lên trên hoàn cảnh; tự do về mặt tinh thần; lạc quan tin tưởng vào thắng lợi to lớn của cách mạng.
- Tình: là tình cảm của con người với con người, với thiên nhiên . Tình trong thơ Bác là vẻ đẹp tâm hồn người nghệ sĩ rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu thiên nhiên, yêu đất nước tha thiết.
=> Thép và Tình trong hai bài thơ vừa hiện ý chí, bản lĩnh cách mạng và nghị lực phi thường của người chiến sĩ cộng sản trong cảnh tù đầy vừa thể hiện được tình cảm bao la nhân ái của vị lãnh tụ cách mạng Hồ Chí Minh.
* Chứng minh: (9,0 điểm) :
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách, song đảm bảo các ý sau:
+ Chất thép trong hai bài thơ "Ngắm trăng" và "Đi đường" thể hiện ở phong thái ung dung, lạc quan yêu đời dù trong hoàn cảnh tù đày cơ cực (4,5 điểm):
- Bài "Ngắm trăng":
"Trong tù không rượu cũng không hoa,
 Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ ”
Hai câu khai, thừa với nghệ thuật đối chuẩn, thi sĩ – người tù Hồ Chí Minh đang sống trong một nghịch cảnh: chân tay bị cùm trói, nằm trong ngục tối đầy muỗi rệp, bên ngoài cửa ngục là cảnh đêm trăng đẹp, không có rượu ngon, hoa thơm để ngắm cảnh. Lòng Bác bối rối, xúc động vô cùng. ( So sánh bản dịch nghĩa sát với nguyên tác câu thừa đề).
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
 Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ".
Vế đối chuẩn ở hai câu chuyển – hợp : nhân hướng...nguyệt tòng...đã thể hiện tư thế ngắm trăng độc đáo của người tù cách mạng. Không phải thưởng trăng thường tình, mà với tất cả tâm hồn và tâm thế "vượt ngục” đích thực. Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh thần người chiến sỹ cộng sản có bản lĩnh phi thường như Bác.
- Bài "Đi đường":
“ Có đi đường mới biết đường đi khó
Thì muôn dặm nước non thu cả vào trong tầm mắt ”.
 	Bản dịch nghĩa sát với nguyên bản chữ Hán, lời thơ giản dị như kể. Bác nói chuyện đi đường, vượt quãng đường đèo núi đường đi khó, lên đến đỉnh cao nhất Người mãn nguyện với cảnh đẹp thiên nhiên mở ra trước mắt.( Chỉ có Bác mới làm được như vậy vì : Hôm nay xiềng xích thay dây trói.....ngọc rung...)
=> Phong thái của người tù là cốt cách của một tao nhân mặc khách ung dung, tự tại.
+ Người say đắm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, qua hai bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước da diết mãnh liệt: (4,5 điểm):
 - Trăng và thi nhân có cuộc giao cảm độc đáo trong “ Ngắm trăng” :
"Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
 Nguyệt tòng song khích khan thi gia” Ta thấy đối : "nhân- nguyệt" rồi lại "nguyệt – thi gia" ở hai đầu câu thơ. Đó là tư thế ngắm trăng đẹp và hiếm có xưa nay. Khoảnh khắc giao cảm giữa thiên nhiên và con người đem đến một sự biến đổi kì diệu: tù nhân trở thành thi gia tri kỉ gắn bó, chỉ có thi nhân coi thiên nhiên là bạn mới đồng cảm được như vậy( so sánh bản dịch chưa sát : nhòm khe cửa...)
- Ở bài “ Đi đường ” Điệp từ “ trùng san” lặp lại mở ra thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ trước mắt người tù cách mạng : Núi cao trập trùng; Người tù say đắm với thiên nhiên : Chim ca vượn hót, lên đỉnh cao chót vót thu vào tầm mắt muôn trùng nước non ...
=> Đó là tinh thần lạc quan yêu đời, yêu tự do và yêu thiên nhiên đất nước tha thiết của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại.
* Đánh giá:(1,0 điểm)
 - Thể thơ tứ tuyệt, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cổ điển và hiện đại.
 - "Ngắm trăng" và "Đi đường" Là những bài thơ tuyệt bút của Hồ Chí Minh. Bác không hề "nói đến thép", "lên giọng thép" mà “ sáng ngời chất thép”. Chất thép, chất tình hòa quyện trong thơ Bác. Qua đó thể hiện nghị lực phi thường và dũng khí lớn lao của người chiến sỹ cộng sản trong cảnh tù đày luôn tin tưởng vào thắng lợi to lớn của cách mạng.
 * Kết luận( 0,5 điểm) : Khái quát vấn đề và liên hệ bản thân.
Trên đây là những định hướng, trong quá trình chấm bài giám khảo cần linh hoạt vận dụng hướng dẫn chấm để định điểm bài làm học sinh sao cho chính xác, hợp lý, cần trân trọng những bài viết có nhiều ý tưởng, giàu chất văn và sáng tạo. Điểm toàn bài lẻ đến 0,25 điểm.
 Hết  

Tài liệu đính kèm:

  • docde_thi_chon_hoc_sinh_gioi_cap_huyen_mon_ngu_van_lop_8_nam_ho.doc